CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Một số khái niệm 1. Đào tạo Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (2004) “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người, về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức nhân cách”. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường (2007): “Đào tạo là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có hiệu quả và năng suất”.
Như vậy, đào tạo có thể hiểu là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho người học để họ có thể trở thành người công dân, người cán bộ, người lao động có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo theo một kế hoạch, nội dung, chương trình, thời gian quy định cho từng ngành nghề cụ thể nhằm giúp người học đạt được một trình độ nhất định trong hoạt động lao động nghề nghiệp. Chất lượng Chất lượng là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Chất lượng có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Có thể kể ra một số khái niệm về chất lượng như sau: “ Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự 8 việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Giáo dục 1998). “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật" hoặc là "cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia" (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, H. “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định” (Theo Philip B. Grosby người Mỹ) “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn” (TCVN -ISO 8402 (1994) Trên đây là một số khái niệm tiêu biểu về chất lượng.
Mỗi một khái niệm được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về chất lượng. Mặc dù vậy theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra trong ISO 8402:1984 thì: “chất lượng là một tập hợp các tính chất đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”. Đây là định nghĩa có ưu điểm nhất, nó được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn; nó phản ánh được bản chất của sự vật và nội dung để so sánh sự vật này với sự vật khác. Chất lượng đào tạo Theo Trần Khánh Đức – viện nghiên cứu phát triển giáo dục: “CLĐT là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” Một số nước ở phương tây có quan điểm về CLĐT như sau: "CLĐT phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó".
Quan điểm này được gọi là "quan điểm nguồn lực" có nghĩa là "Nguồn lực" = "Chất lượng". Theo quan điểm này nếu một trường đại học, cao đẳng nào tuyển sinh được học sinh, sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy giỏi, có nguồn tài chính tốt… thì trường đó có CLĐT tốt. Tuy nhiên quan điểm này đã không nhắc đến quá trình tổ chức và quản lý đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một khoảng thời gian dài. Trên thực tế có những trường có nguồn lực "đầu vào" dồi dào nhưng chất lượng 9 đầu ra hạn chế hoặc ngược lại.
Theo quan điểm này thì dựa vào chất lượng nguồn lực đầu vào có thể đánh giá được chất lượng đầu ra. Đánh giá CLĐT bằng đầu ra thì "Đầu ra" là kết quả và kết quả của quá trình đào tạo được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp nhằm đáp ứng được với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về CLĐT không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của người đó trong doanh nghiệp. Chất lượng được đánh giá bằng "Giá trị gia tăng".
Theo quan điểm này một trường có tác động tích cực và tạo ra sự khác biệt của sinh viên về trí tuệ, nhân cách… của học sinh, sinh viên thì trường đã tạo ra giá trị gia tăng cho học sinh, sinh viên đó. "Giá trị gia tăng" được xác định bằng giá trị của "đầu ra" trừ đi giá trị của "đầu vào" và kết quả thu được được coi là CLĐT của trường. Quan điểm này chỉ có trên lý thuyết vì trên thực tế rất khó có một thước đo về mặt định lượng để đánh giá chất lượng "đầu vào" và "đầu ra" từ đó tìm ra mức chênh lệch để đánh giá CLĐT. Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm CLĐT, do khái niệm “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan điểm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối, do đó khái niệm CLĐT cũng mang tính trừu tượng.
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong đó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được. Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao hoặc chất lượng hàng đầu. Với quan niệm chất lượng tương đối thì “chất lượng” được dùng để người ta gán cho sản phẩm, đồ vật. Theo quan niệm này thì một vật một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được mong muốn của người sản xuất định ra và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi.
Từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh: 10 Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra. Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”. Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài” Theo cách tiếp cận trên thì tại mỗi trường, cơ sở đào tạo cần xác định mục tiêu và chiến lược sao cho phù hợp với nhu cầu của người học, của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài” đồng thời phải cụ thể hóa các mục tiêu trên thông qua quá trình tổ chức, phối hợp giữa các bộ phận các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”. Kết quả đào tạo phù hợp với nhu cầu xã Nhu cầu xã hội hội => Đạt chất lượng ngoài Kết quả đào tạo Mục tiêu đào tạo Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo => Đạt chất lượng trong Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quan niệm về CLĐT Nguồn: Trần Khánh Đức, 2004.
Như vậy, CLĐT là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo qua sự đánh giá của người học, người dạy, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đào tạo.2 CLĐT ngành nuôi trồng thủy sản 1. Giới thiệu về ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất thủy sản lớn nhất thế giới bên cạnh các cường quốc như: Trung Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản. Ngành thủy sản hiện nay chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế và tạo ra nguồn thu nhập lớn, cũng như mang đến nhiều cơ hội việc làm. 11 Nuôi trồng thủy sản là ngành học tiềm năng.
Hầu hết sinh viên ra trường đều có công việc ổn định. Tuy nhiên, đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong ngành vẫn chưa cung ứng đủ với nhu cầu của xã hội. Ngành nuôi trồng thủy sản bao gồm rất nhiều lĩnh vực như: nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, chẩn đoán bệnh học, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý hoạt động thủy hải sản… Trong quá trình học, sinh viên có thể thiết lập cơ sở dữ liệu và quản lý tài nguyên thủy sản thiên nhiên, phát triển các mô hình thủy hải sản ở địa phương, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, cải thiện chất lượng giống. Bên cạnh đó, sinh viên còn được trang bị các kiến thức về bệnh lý, các biện pháp phòng trị bệnh, nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến bệnh thủy sản, thử nghiệm các hóa dược vắcxin trên thủy sản, kiểm nghiệm nguồn gốc, chất lượng thủy sản… Sinh viên ngành nuôi trồng thủy sản sau khi ra trường có thể làm việc tại các sở Nông nghiệp, sở Khoa học Công nghệ, các cơ sở sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản, tư vấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho bà con nông dân.
Cách tiếp cận để đánh giá CLĐT ngành nuôi trồng thủy sản 1. Đánh giá CLĐT từ phía Nhà trường Để đánh giá được CLĐT của một ngành thì phải dựa vào chuẩn đầu ra của một ngành mà trường đào tạo. Chuẩn đầu ra của ngành đó thể hiện rõ chất lượng sản phẩm đầu ra trong đào tạo của nhà trường. Chuẩn đầu ra là thông qua kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo.