phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cở sở lý luận về nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ Công chức cấp xã, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
8 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm 1.Công chức Công chức là một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do ngân sách nhà nƣớc trả lƣơng. Khái niệm công chức mang tính lịch sử, bản chất của nó phụ thuộc vào tính chất đặc thù về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia cũng nhƣ từng giai đoạn lịch sử cụ thể của mỗi nƣớc. Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời tham gia các hoạt động quản lý nhà nƣớc ở trung ƣơng và địa phƣơng hay chỉ có ở các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng.
Một số quốc gia có quan niệm rộng hơn, coi công chức không chỉ bao gồm những ngƣời trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức dịch vụ công. Thuật ngữ công chức chính thức đƣợc ra đời tại nƣớc Anh vào thế kỷ XIX (năm 1847) với thuật ngữ Public Service bao gồm tất cả công việc (nhiệm vụ) của public sector (khu vực công). Dẫn đến khái niệm: public servant – ngƣời làm trong khu vực công (thực hiện public service). Ở Hoa Kỳ, công chức Hoa Kỳ bao gồm những ngƣời làm việc trong ngành hành chính của Chính phủ đƣợc bổ nhiệm về chính trị nhƣ: Thứ trƣởng, Trợ lý bộ trƣởng, ngƣời đứng đầu bộ máy độc lập và những ngƣời liên quan chức nghiệp làm việc trong Hành pháp.
Ở Nhật Bản, công chức nhà nƣớc của Nhật là những ngƣời ƣu tú. Tƣ chất và năng lực đƣợc quyết định bằng sự đào tạo liên tục sau khi đƣợc tuyển 9 dụng. Có 02 loại công chức là công chức nhà nƣớc và công chức địa phƣơng. Công chức Nhật Bản là những ngƣời đƣợc xã hội rất coi trọng, đƣợc chế độ nhà nƣớc rất ƣu ái, đƣợc tuyển chọn qua những kỳ thi tuyển nghiêm túc và bằng sự đào tạo, rèn luyện liên tục trên các cƣơng vị khác nhau khi đƣợc tuyển dụng.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa 9/1945. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định về quy chế công chức Việt Nam: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ định”. Đến năm 2008, Quốc hội nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bƣớc tiến, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Khoản 2, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. Nhƣ vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những ngƣời làm việc trong 10 các cơ quan Hành chính nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc ở các phòng, ban của Đảng, MTTQ Việt nam; các tổ chức Chính trị xã hội nhƣ: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ƣơng đến cấp quận. Tóm lại, trong Luận văn này, tác giả định nghĩa công chức là ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nƣớc (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và đƣợc hƣởng lƣơng và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nƣớc. Đội ngũ công chức cấp xã Khái niệm Đội ngũ công chức cấp xã là khái niệm bao gồm tập thể công chức xã, tất cả công chức xã tập hợp lại tạo thành đội ngũ công chức xã, do vậy đội ngũ công chức xã bao gồm số lƣợng, cơ cấu, tiêu chuẩn công chức xã.
- Cơ cấu công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, bao gồm các chức danh sau đây: a) Trƣởng Công an; b) Chỉ huy trƣởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tƣ pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã, phƣờng do cấp quận, huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. 11 - Số lƣợng công chức cấp xã theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 ngƣời, cấp xã loại 2 không quá 23 ngƣời, cấp xã loại 3 không quá 21 ngƣời (bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã).
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phƣờng, thị trấn. - Theo Thông tƣ số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ ban hành hƣớng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, thì công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ nhƣ: đủ 18 tuổi trở lên; tốt nghiệp trung học phổ thông; về trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt nghiệp đại học trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp trở lên đối với công chức làm việc tại các xã: miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đƣợc cấp chứng chỉ sử dụng công nghệ thông tin theo chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản quy định tại Thông tƣ số 03/2014/TT- BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông. Căn cứ tiêu chuẩn của công chức cấp xã quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tƣ này và điều kiện thực tế của địa phƣơng, UBND cấp tỉnh quyết định: ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã trong từng kỳ tuyển dụng; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng đối với từng chức danh công chức cấp xã về quản lý nhà nƣớc, lý luận chính trị; ngoại ngữ, 12 tiếng dân tộc thiểu số (đối với địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ). Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì chất lƣợng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) …làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác.
Chất lƣợng của công chức cấp xã đƣợc hiểu là chất lƣợng lao động và tinh thần phục vụ nhân dân của công chức cấp xã trong thực thi công vụ. Đây là một loại lao động có tính đặc thù riêng, xuất phát từ vị trí, vai trò của chính lao động này. Các yếu tố cấu thành chất lƣợng của đội ngũ công chức cấp xã bao gồm: ở trình độ, năng lực chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trƣờng, hội nhập quốc tế. Chất lƣợng của công chức cấp xã còn bao hàm sức khoẻ, thể trạng; bằng cấp, trình độ chuyên môn để thực thi công vụ.
- Thể trạng là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thƣơng tật - Bằng cấp, trình độ chuyên môn: chỉ khả năng, năng lực của công chức chuyên về lĩnh vực nào đó. Chất lƣợng đội ngũ công chức (tập thể công chức) đƣợc xem xét trên các phƣơng diện: - Số lƣợng công chức trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị. - Cơ cấu công chức, đƣợc xác định cụ thể qua các tiêu chí nhƣ: độ tuổi, giới tính, vị trí công tác, trình độ đào tạo, đảng viên, dân tộc, tôn giáo… - Chất lƣợng công chức, thể hiện một phần qua cơ cấu, qua chất lƣợng cá nhân mỗi công chức và chất lƣợng tập thể công chức ở mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nƣớc. 13 Nhƣ vậy, đánh giá về chất lƣợng đội ngũ công chức cần xem xét trên cả ba phƣơng diện là số lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng (cá nhân và tập thể công chức).