Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng công chức tại Ủy ban chính quyền tỉnh Xiêng Khoảng, Lào Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tại Ủy ban chính quyền tỉnh Xiêng Khoảng, Lào 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC ỦY BAN CHÍNH QUYỀN TỈNH 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công chức Công chức là công dân Lào, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan đơn vị trực thuộc lực lượng vũ trang (Lực lượng an ninh nhân dân, quân đội nhân dân) mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo Nghị định số 82/2003/NĐ-TTg ngày 19/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ nước CHDCND Lào về quy chế công chức CHDCND Lào, Điều 2 đã quy định: “Công chức của CHDCND Lào là công dân Lào được sắp xếp vào biên chế và được tuyển dụng làm việc thường xuyên ở các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể quần chúng từ Trung ương đến địa phương và ở các cơ quan đại diện nước CHDCND Lào ở nước ngoài, được hưởng lương và tiền trợ cấp từ ngân sách nhà nước” [22, tr.15]; Điều 3 quy định: “Những đối tượng như: cán bộ lãnh đạo cao cấp (từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên); bộ đội; công an; cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nước; cán bộ theo hợp đồng,thì Chính phủ có quy định điều chỉnh riêng” [22, tr.
Như vậy, có thể thấy khái niệm về công chức trong văn bản pháp quy và Nghị định nêu trên có phạm vi điều chỉnh rộng, đối tượng điều chỉnh ở đây không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương mà còn bao hàm cả những người làm việc ở các 11 cơ quan Đảng, Đoàn thể và doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà nước. các đối tượng trên chịu sự quản lý, điều hành và thực thi công vụ theo sự phân công của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Như vậy công chức được hiểu là những người công chức là những người được tuyển dụng làm việc thường xuyên ở tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể quần chúng từ Trung ương đến địa phương. Nhưng quan niệm CBCC vẫn có những điểm chung đó là cả CBCC đều là những người được làm việc ở cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, thừa hành công vụ do tổ chức phân công, chịu nhiệm quản lý, giám sát của tổ chức.
Bản thân công chức phải đảm bảo các tiêu chuẩn, tiêu chí, yêu cầu mà tổ chức đặt ra đối với từng vị trí, công việc. Nói cách khác là phải bảo đảm chất lượng công chức theo quy định của tổ chức. Ủy ban chính quyền tỉnh UBCQ tỉnh là một cơ quan hành chính Nhà nước của hệ thống hành chính CHDCND Lào. Đây là cơ quan nắm quyền lãnh đạo, quản lý toàn hệ thống chính trị ở địa phương, thực thi pháp luật tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo Điều 77 Hiến pháp CHDCND Lào năm 2015: Chức năng, nhiệm vụ của UBCQ cấp tỉnh được quy định trong Hiến pháp nước CHDCND Lào, đồng thời được cụ thể hóa trong Luật Quản lý chính quyền địa phương năm 2016. Theo đó UBCQ cấp tỉnh có chức năng nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi; thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền; Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, 12 đề án của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh và công tác quân sự địa phương; xây dựng và hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; xây dựng lực lượng dự bị động viên và huy động lực lượng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương; Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nước ở trung ương phân cấp, ủy quyền; Phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh [20]. Công chức Ủy ban chính quyền tỉnh Từ hai khái niệm trên có thể hiểu công chức cấp tỉnh là công dân Lào được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan Đảng và nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội của tỉnh, thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp tỉnh thuộc đội ngũ công chức của nhà nước, do vậy cũng có những quyền và nghĩa vụ giống với công chức nói chung, tuy nhiên, tùy vào từng vị trí đảm nhiệm công tác mà m i công chức có một chức năng, nhiệm vụ khác nhau, và do đó yêu cầu tiêu chuẩn (chất lượng nhân lực) cũng khác nhau.
Ủy ban chính quyền tỉnh là cơ quan chính quyền thuộc cấp tỉnh, công chức của UBCQ tỉnh là công chức làm việc trong bộ máy hành chính cấp tỉnh 13 được đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ thống trong một tỉnh và mang tính ổn định; thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, bảo đảm thực thi quyền lực hành chính của Nhà nước đối với xã hội trong phạm vi một tỉnh. Từ định nghĩa này, ta thấy những nội dung cơ bản trong nội hàm khái niệm công chức UBCQ tỉnh là: - Công chức Nhà nước cấp tỉnh chính là công chức cấp địa phương, là những người nằm trong chính quyền địa phương được đóng góp một bộ phận hợp thành của chính quyền Nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. - Công chức UBCQ cấp tỉnh cũng làm hành chính Nhà nước nhưng được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBCQ cấp tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ nhân sách Nhà nước. Tóm lại, theo tác giả có thể hiểu: Công chức UBCQ cấp tỉnh là một bộ phận của công chức hành chính Nhà nước, làm việc trong tập thể ủy ban và các cơ quan chuyên môn của UBCQ tỉnh, được UBCQ tỉnh giao thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và có những quyền hạn nhất định để giúp UBCQ tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Đội ngũ công chức Ủy ban chính quyền tỉnh Đội ngũ được hiểu là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ [8, tr. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu đội ngũ công chức cấp tỉnh là tập hợp những người làm việc trong tập thể, ủy ban và các cơ quan chuyên môn của ủy ban cơ quan tỉnh, được ủy ban cơ quan tỉnh giao thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và có những quyền hạn nhất định để giúp UBCQ tỉnh thực hiện chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình. Khi nói đến đội ngũ là nói đến tính tập thể, có cùng một mục tiêu, nhiệm vụ, có thể cùng ngành, cùng 14 chuyên môn. Chẳng hạn đội ngũ giảng viên, đội ngũ thợ cơ khí, đội ngũ công nhân xây dựng, đội ngũ đảng viên.
Chất lượng đội ngũ công chức Ủy ban chính quyền tỉnh Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng. Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra như sau: Theo Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2004), chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác, là cái làm nền phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái nền bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [8]. Chất lượng cũng được hiểu là mức độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, là những dấu hiệu đặc thù, dữ kiện hay các thông số cơ bản để biểu thị một vấn đề nào đó [8].
Trong những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau cùng về chất lượng. Dù vậy, định nghĩa về chất lượng của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế là định nghĩa được thừa nhận ở phạm vi quốc tế. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005, Điều 3.1 đã định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”.