phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. - Chƣơng 3: Quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Một số khái niệm 1.1 Chất lượng Chất lƣợng là một phạm trù trừu tƣợng, định tính.
Dƣới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì khái niệm về chất lƣợng cũng khác nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì chất lƣợng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, một sự vật, một sự việc hay chất lƣợng là cái tạo nên bản chất của một con ngƣời, một sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia. Nói cách khác, chất lƣợng là hệ thống những yếu tố đặc trƣng cơ bản để hình thành giá trị, tính chất tốt đẹp của từng con ngƣời, từng sự vật [50]. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc),.
làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [47]. Đây là cách đánh giá một con ngƣời, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó. Theo một cách hiểu khác thì chất lƣợng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tƣơng đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lƣợng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính.
Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật nhƣ một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau sẽ có nhiều quan điểm về chất lƣợng khác nhau. Hiệp Hội về chất lƣợng của Hoa Kỳ (ASQ) đã định nghĩa chất lƣợng là “tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng”. 13 Theo tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) định nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”.
Và theo TCVN 9000:2000 định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lƣợng đƣợc thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lƣợng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”. Ở quan niệm chung, “chất lƣợng” là cái tạo nên tổng hợp giá trị, phẩm chất của một ngƣời/tổ chức, một sự vật/sự việc. Những giá trị, phẩm chất đó đáp ứng đến đâu so với yêu cầu đã đƣợc xác định trong một thời gian và không gian xác định về một con ngƣời/ tổ chức, một sự vật/sự việc đó.
Vì thế, đề cập đến chất lƣợng của một con ngƣời là xem xét đến mức độ họ đạt đƣợc (các mức độ ngang tầm - dƣới tầm - vƣợt tầm, cao - thấp, đạt - không đạt) so với yêu cầu đặt ra trong một thời gian và không gian đƣợc xác định cụ thể.2 Công chức Khái niệm công chức đƣợc hiểu khác nhau ở các quốc gia. Ở mỗi nƣớc, mỗi giai đoạn phát triển có những quy định khác nhau. Khái niệm công chức thƣờng mang tính lịch sử và xã hội nhiều hơn là tính khoa học. Thuật ngữ công chức đƣợc dùng để chỉ một nhóm ngƣời đặc biệt trong những ngƣời làm việc cho nhà nhà nƣớc; đƣợc hình thành theo cách riêng (đƣa vào tổ chức nhà nƣớc); có những quy định, hoạt động riêng; có quyền, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm và chịu trách nhiệm riêng; đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [2625].
Ở Việt Nam, cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác 14 nhau, ngƣời ta đã đƣa ra các quan niệm khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức". Qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm công chức ở nƣớc ta cũng đã có nhiều lần thay đổi. Khái niệm công chức đƣợc quy định lần đầu tiên tại Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà về Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ đƣợc xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ, đó là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [9].
Trải qua quá trình phát triển của đất nƣớc, thuật ngữ công chức cũng đƣợc quy định khác nhau qua các thời kỳ. Kế thừa những điểm tích cực, tiến bộ, đồng thời khắc phục những hạn chế của các văn bản pháp luật quy định về công chức trƣớc đó, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã thông qua Luật Cán bộ, công chức. Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trƣớc đến nay và cắt nghĩa đƣợc rõ ràng hơn về các khái niệm CBCC. Tại Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập 15 thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [35].
Đến năm 2019 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã sửa đổi, bổ sung về khái niệm công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo đó, công chức không bao gồm đối tƣợng là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội [36].3 Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng số 77/2015/QH13 đƣợc Quốc hội Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đã quy định về các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nhƣ sau: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. 16 Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.
Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện” [36]. Khoản 2, Điều 27 Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy định: “Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng”. Nhƣ vậy, có thể hiểu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là các phòng, cơ quan tƣơng đƣơng phòng, thực hiện chức năng tham mƣu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phƣơng. Các phòng, cơ quan tƣơng đƣơng phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hƣớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh.