Chương 1: Bồi dưỡng công chức Cơ quan Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng công chức của Cơ quan Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Chương 3: Giải pháp hoàn thiện bồi dưỡng công chức của Cơ quan Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong giai đoạn t i 6 CHƢƠNG 1: BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CƠ QUAN BỘ LAO ĐỘNG – THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 1. Một số khái niệm 1. C ng chức Công chức là một khái niệm chung được s dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới đ ch những công dân được tuy n dụng vào làm việc thư ng xuyên trong c quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lư ng Khái niệm công chức mang tính lịch s , bản chất của nó phụ thuộc vào tính chất đ c thù về lịch s , kinh tế, chính trị, văn hóa của m i quốc gia c ng như từng giai đoạn lịch s cụ th của chính m i nước Do đó, trong thực tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, thậm chí ngay trong một quốc gia, ở từng th i kỳ phát tri n khác nhau, thuật ngữ này c ng mang những nội dung khác nhau Có nước ch giới hạn công chức trong phạm vi những ngư i tham gia các hoạt động quản lý nhà nước ở trung ư ng và địa phư ng hay ch có ở các c quan nhà nước trung ư ng Một số quốc gia có quan niệm rộng h n, coi công chức không ch bao gồm những ngư i trực tiếp thực hiện các hoạt động quản l nhà nước mà còn bao gồm cả những ngư i làm việc trong các c quan, tổ chức dịch vụ công. Ở Trung Quốc: Khái niệm công chức nhà nước được d ng đ ch những ngư i làm việc trong các c quan hành ch nh nhà nước ở các cấp Trung ư ng và địa phư ng, trừ nhân viên làm phục vụ, tạp vụ.
Ở Pháp: Công chức là những ngư i được tuy n dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các c quan hành ch nh công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ư ng và địa phư ng nhưng không k đến các công chức địa phư ng thuộc các hội đồng thuộc địa phư ng quản lý. Ở Đức: Khái niệm công chức c ng rất rộng, bao gồm toàn bộ nhân viên làm việc trong các c quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ch do nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các c quan Ch nh phủ. 7 Từ những khái niệm về công chức của một số nước như trên, có th thấy: không có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các nước. Tuy nhiên, nội hàm c bản của khái niệm công chức đều được các quốc gia đề cập: - Là những ngư i được tuy n dụng và bổ nhiệm làm một công việc thư ng xuyên trong một công sở của nhà nước; - Được hưởng lư ng từ ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát tri n cùng với sự ra đ i của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 9/1945 và có nhiều biến động cùng với tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc (1945 - 1975) và phát tri n trong quá trình xây dựng, đổi mới đất nước (từ 976 đến nay) và phát tri n nền hành ch nh nhà nước trong th i kỳ mới (từ 1986). Khái niệm công chức Việt Nam đã b t đầu rất sớm - từ s c lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức. Theo Quy chế này phạm vi công chức rất h p, ch những ngư i được tuy n dụng giữ một chức vụ thư ng xuyên trong các c quan Ch nh phủ - tức ch công chức hành ch nh nhà nước hiện nay. Th i kỳ 1960 - 1980, khái niệm công chức t được s dụng mà thay b ng khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt công chức, viên chức, công nhân viên.
Lúc này, khái niệm cán bộ là ch ngư i hoạt động thoát li, làm việc trong các c quan Đảng, nhà nước từ cấp huyện trở lên trong doanh nghiệp quốc doanh, các tổ chức sự nghiệp nhà nước, các đoàn th chính trị - xã hội, k cả hoạt động trong quốc phòng, an ninh (cán bộ quân đội, cán bộ Công an nhân dân… Khi công cuộc đổi mới đất nước được phát động từ năm 986, trước yêu cầu khách quan của tiến trình đổi mới bộ máy nhà nước, chuy n đổi nền kinh tế sang thị trư ng mà trọng tâm là cải cách nền hành ch nh nhà nước đ i h i xây dựng một nền công vụ mới đã b t đầu phải chu n hóa lại đội ng cán bộ công chức - và khái niệm công chức đã được s dụng trở lại b ng Nghị định 69 HĐBT ngày 25-5-1991 quy định: Công dân Việt Nam được tuy n dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thư ng 8 xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ư ng hay địa phư ng, ở trong nước hay ngoài nước được xếp vào một ngạch, hưởng lư ng do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức M c dù vậy, Nghị định 69 HĐBT c n chưa xác định một số đối tượng làm công tác giáo dục, nghiên cứu khoa học, báo ch , văn nghệ s … là cán bộ loại nào. Còn cán bộ làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước được xác định không phải là công chức. Năm 998 lần đầu tiên Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được ban hành, và xác định ai là công chức: Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lư ng từ ngân sách nhà nước… Tuy nhiên, pháp lệnh vẫn s dụng cả khái niệm cán bộ, cho nên thực chất vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa công chức với các loại nhân sự khác hoạt động trong khu vực nhà nước, trong hệ thống chính trị nước ta. Ở đây vẫn chưa xác định rõ công chức, công chức còn bao gồm cả viên chức sự nghiệp trong các tổ chức sự nghiệp công Do đó, chế độ công vụ - công chức còn s dụng khái niệm hành ch nh, sự nghiệp đ được hưởng các chế độ, ch nh sách như nhau Năm 2003, Pháp lệnh cán bộ - công chức được s a đổi bổ sung, đã phân định r h n các đối tượng cán bộ, công chức bao gồm: Cán bộ, công chức hành chính; cán bộ, viên chức sự nghiệp, cán bộ, công chức xã, phư ng, thị trấn và công chức dự bị Do đó Nghị định 7 2003 NĐ-CP đã quy định công chức là ngư i được tuy n dụng, bổ nhiệm ho c được giao nhiệm vụ thư ng xuyên làm việc trong các c quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ư ng, cấp t nh, cấp huyện ho c trong c quan, đ n vị thuộc Quân đội nhân dân, hay Công an nhân dân mà không phải là S quan, quân nhân chuyên nghiệp, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lư ng từ ngân sách nhà nước Năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ - công chức (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010).
Và đến 25/11/2019 ban hành Luật số 52 20 9 QH 4 S a đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức Theo điều 4, công chức được xác định: 9 Công chức là công dân Việt Nam, được tuy n dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tư ng ứng với vị tr việc làm trong c quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức ch nh trị - xã hội ở trung ư ng, cấp t nh, cấp huyện; trong c quan, đ n vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là s quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc ph ng; trong c quan, đ n vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là s quan, hạ s quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lư ng từ ngân sách nhà nước Như vậy, khái niệm công chức nước ta được quy định trong luật là rất rộng, bao gồm công chức trong các c quan của Đảng CSVN, Quốc hội, Văn ph ng Chủ tịch nước, các bộ, c quan ngang bộ, c quan thuộc chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong c quan hành ch nh 1. Bồi dưỡng B ng: được xác định là quá trình làm cho con ngư i tăng thêm năng lực sản xuất ho c ph m chất Thông thư ng, trong hoạt động công vụ, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho cán bộ, công chức, viên chức đ thực hiện tốt h n, hiệu quả h n nhiệm vụ được giao. Về th i gian, việc bồi dưỡng thư ng ng n h n, có th vài ngày, vài tuần ho c vài tháng và về b ng cấp thì bồi dưỡng không có b ng cấp mà ch có chứng ch , chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng. UNESCO định ngh a: Bồi dưỡng có ngh a nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quá trình này ch di n ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức ho c kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của mình nh m đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Theo Từ đi n Tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb. Từ đi n Bách Khoa, Hà Nội, 2010): Bồi dưỡng: Làm cho ngư i học tăng thêm sức của c th b ng chất bổ và tăng thêm năng lực ho c ph m chất N y, b a ổ sung, c p nh t thêm những kiến th c m i, kinh nghi m th c ti n, phẩm chất nghề nghi p nh m ú ời học hoàn thành t mv ợc giao.
Bồi dưỡng công chức Ngày 25/1/2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 63 QĐ-TTg về phê duyệt Đề án Đào tạo cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025. Nội dung về bồi dưỡng như sau: a) Lý luận chính trị - Bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị theo tiêu chu n quy định cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cho các chức danh công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã.