Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã tại địa bàn huyện Chợ Đồn từ năm 2014 - 2018. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác bồi dưỡng công chức cấp xã tại huyện Chợ Đồn trong thời gian tới. 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức Khái niệm công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nội hàm của khái niệm này phụ thuộc rất nhiều vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn lịch sử. Bởi vậy, không có một định nghĩa chung nhất về công chức.
Ngay cả với một quốc gia trong từng thời kỳ phát triển. Theo cách hiểu chung nhất: “Công chức là công dân được được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách Nhà nước trả lương”, mỗi nước đều xây dựng cho mình những khái niệm riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển. Căn cứ Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 của Quốc hội có quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Khái niệm công chức cấp xã: Căn cứ Khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 của Quốc hội thì công chức cấp xã được quy định như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Công chức cấp xã (có 7 chức danh) gồm những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã gồm có: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng – thống kê; d) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính – Kế toán; e) Tư pháp – hộ tịch; g) Văn hóa – xã hội. Theo Quyết định số 1071/2013/QĐ-UBND ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc quy định số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn cụ thể: - Các xã, phường, thị trấn loại I: Không quá 25 người (xã Xuân Lạc); - Các xã, phường, thị trấn loại II: Không quá 23 người (các xã còn lại); - Các xã, phường, thị trấn loại III: Không quá 21 người (xã Rã Bản, Đông Viên, Yên Nhuận). 10 Luan van Các chức danh công chức được bố trí theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ. Riêng chức danh công chức địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã) và các chức danh Văn hóa – xã hội, được bố trí 02 người.
Số lượng công chức cấp xã được bố trí theo đơn vị hành chính, dao động khoảng từ 7 đến 13 công chức. Đặc điểm của công chức cấp xã: Thứ nhất, công chức cấp xã hầu hết là dân bản địa, cư trú sinh sống tại địa phương. Công chức cấp xã có mối quan hệ thân tộc, dòng họ gắn bó với cộng đồng dân cư. Mỗi công chức cấp xã có vai trò khác nhau trong các mối quan hệ: Người dân, người cùng họ, cùng làng, người đại diện cộng đồng, hình ảnh của chính quyền cấp xã trong quan hệ với tổ chức, công dân.
Điều này ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, giải quyết những vấn đề liên quan đến cá nhân, cộng đồng, chính quyền. Thứ hai, công chức cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào dân, gắn bó với dân và ngược lại, quá trình tiếp xúc với nhân dân làm cho công chức cấp xã hiểu đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo lên cấp trên. Đồng thời, họ là những người tham mưu cho cơ quan chức năng để các cơ quan này có chính sách phù hợp với thực tế tại địa phương. Thứ ba, công chức cấp xã có số lượng đông, đa dạng về chuyên môn và trình độ không đồng đều.
Với các chức danh công chức khác nhau, yêu cầu về năng lực chuyên môn, yêu cầu về kinh nghiệm công tác, nguồn tuyển dụng có những điểm khác biệt. 11 Luan van Từ những đặc thù của công chức cấp xã như trên, đòi hỏi về mặt bồi dưỡng đối với công chức xã là cần thiết nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng nhu cầu công việc. ứ Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay đội ngũ công chức xã đóng vai trò vô cùng quan trọng không chỉ trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư trên địa bàn xã. Công chức cấp xã là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ xã hội, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ nhất, công chức cấp xã trong mối quan hệ với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc triển khai và tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách, pháp luật. Đội ngũ công chức cấp xã trực tiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; là người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa tại khu dân cư. Công chức xã vừa là người tham gia, góp phần xây dựng, hoàn thiện, vừa là người tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã. Họ không những là người thay mặt Nhà nước quản lý về các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn mà còn là người có vai trò phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân. 12 Luan van Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”.
[Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 309]; Thứ hai, Công chức cấp xã trong mối quan hệ với bộ máy nhà nước. Công chức xã là người trực tiếp tiến hành các nhiệm vụ được cấp trên giao.
Đồng thời, không những phải thi hành tốt nhiệm vụ được giao mà còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những gì mình đã làm. Đội ngũ công chức chuyên môn này là một đội ngũ quan trọng trong hệ thống chính quyền xã. Họ là những người nắm rõ chính sách, pháp luật của Nhà nước, là đội ngũ tham mưu cho chủ tịch, các phó chủ tịch xã về các lĩnh vực chuyên môn phụ trách. Qua đó cho thấy công chức xã không chỉ biết về những gì thuộc về chuyên môn nghiệp vụ của mình mà còn cần nắm rõ về pháp luật, những quy định của nhà nước để không bị phạm sai lầm trong công tác thực hiện.
Có thể nói, công chức cấp xã là đội ngũ vận hành bộ máy hành chính ở địa phương, một mắt xích trong việc thiết lập nên bộ máy hành chính. Công chức cấp xã khi thực hiện công vụ phải gắn liền với tổ chức, nhân danh tổ chức và đại diện nhà nước để quản lý xã hội, chịu sự quản lý của hệ thống bộ máy nhà nước. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào công chức. Công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, công chức kém sẽ làm cho bộ máy bị tê liệt.
Thứ ba, công chức cấp xã trong mối quan hệ với hoạt động thực thi công vụ ở địa phương. Công chức cấp xã là người tổ chức, điều hành hoạt động của cấp xã, chịu sự chi phối ràng buộc của tổ chức. Công chức cấp xã chỉ có sức mạnh khi gắn liền với tổ chức chính quyền và nhân dân. Bên cạnh đó, công chức 13 Luan van cấp xã còn có khả năng góp ý, đề xuất với cơ quan nhà nước cấp trên để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh phù hợp với nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Thứ tư, công chức cấp xã là người đại diện cho nhân dân, do làm việc tại cấp thấp nhất trong bộ máy chính quyền của nước ta, vì vậy thường xuyên tiếp xúc và làm việc với nhân dân, đại diện ý chí và quyền lợi của người dân tại địa phương. Có thể nói rằng công chức cấp xã là người hiểu rõ tâm tư và nguyện vọng của nhân dân nhất, không chỉ vậy còn biết được phong tục tập quán, địa bàn lãnh thổ cụ thể của từng địa phương nên có thể đưa ra được những giải pháp phù hợp nhất.