Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng công chức cấp xã. - Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị tăng cường bồi dưỡng công chức cấp xã ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Khái quát về công chức cấp xã 1. Khái niệm cấp xã và công chức cấp xã 1. Khái niệm cấp xã Theo Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định”.
Như vậy, cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta, là cấp cơ sở gần và sát dân nhất. Cấp xã là đơn vị hành chính của một cộng đồng dân cư, được chia theo địa giới do pháp luật quy định, có bộ máy hành chính, có chức năng, nhiệm vụ và có đội ngũ cán bộ, công chức riêng. Ở Việt Nam, xã là loại hình đơn vị hành chính lâu đời, là loại hình đơn vị hành chính ở nông thôn, ngoại thị, ngoại thành và chiếm đa số trong các loại hình đơn vị hành chính cơ sở. “Cấp xã” bao gồm ba loại hình cơ sở là: xã, phường, thị trấn.
Ba loại hình cơ sở này có những điểm chung, song cũng có nhiều nét đặc trưng riêng biệt của mình. Cấp xã và chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống hành chính ở nước ta. Cấp xã là cấp hành chính gần dân nhất, 8 Luan van chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi hoạt động ở địa phương. Đồng thời cấp xã chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về việc chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân ở địa phương.
Là một cấp hành chính trong hệ thống chính quyền, cấp xã được sử dụng con dấu có hình quốc huy, biểu trưng cho quyền lực của Nhà nước, là một cơ quan có thẩm quyền rộng trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội trên địa bàn. Ngoài ra cấp xã còn là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cấp huyện, tỉnh và trung ương; đại diện của nhân dân địa phương tự quyết định những vấn đề nội bộ địa phương, đồng thời là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cấp trên. Khái niệm công chức cấp xã Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ và thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, tùy theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, “viên chức”.
Theo Điều 4, khoản 3 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ- CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng và môi trường (đối với phường hoặc 9 Luan van thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa – xã hội. Công chức cấp xã là một bộ phận của công chức nói chung, là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được xác định cụ thể về số lượng, tên gọi, chức năng hoạt động gắn với từng vị trí việc làm đã được pháp luật quy định nhằm thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chính quyền ở cấp xã. Vì vậy, công chức xã sau khi được tuyển dụng phải được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc chuyên môn.
Đặc điểm và vai trò của công chức cấp xã 1. Đặc điểm của công chức cấp xã Công chức cấp xã là một bộ phận của tổng thể đội ngũ công chức nên cũng mang những đặc điểm của công chức. Tuy nhiên, chính quyền cấp xã là một cấp đặc biệt trong hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam. Do vậy, công chức cấp xã cũng mang những đặc điểm cơ bản của công chức hành chính nói chung.
Công chức cấp xã có một vài đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, công chức cấp xã là công chức trực tiếp tiếp xúc và làm việc với người dân. Họ là người gần dân, sát dân, trực tiếp triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới người dân. Tuy nhiên, trong thực thi nhiệm vụ, công chức cấp xã chịu sự giám sát trực tiếp của người dân, chưa thoát ly sản xuất; phần lớn họ vừa tham gia công tác, vừa tham gia sản xuất kinh doanh gắn với ruộng, vườn, trang trại, ngành nghề thủ công nghiệp, dịch vụ. cùng với gia đình.
Trong nhiều trường hợp nguồn thu nhập chính của họ không phải tiền lương, phụ cấp, chính sách được nhà nước đãi ngộ mà chủ yếu từ kết quả sản xuất kinh doanh của bản thân và gia đình. 10 Luan van Chính vì hiểu dân, thông thạo phong tục, tập quán của dân mà đội ngũ công chức cấp xã dễ làm dân tin và dân mến; do vậy họ có điều kiện thuận lợi để thuyết phục, vận động nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thứ hai, hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp. Họ giải quyết tất cả các công việc ở địa phương mang tính thường xuyên, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Công chức cấp xã hầu hết là dân bản địa, sinh sống, cư trú tại địa phương. Phần lớn họ đều có mối quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với cộng đồng dân cư trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, tình cảm. Trong cuộc sống hàng ngày, quan hệ họ hàng, làng bản có khi còn sâu nặng hơn quan hệ đồng chí, đồng nghiệp. Bản thân con người mỗi công chức cấp xã có các yếu tố: Người dân, người cùng làng, cùng họ, người đại diện cộng đồng và người đại diện nhà nước vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, xung đột nhau chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - nhà nước.
Trong một thời gian dài (từ 1945 - 2003), công chức cấp xã không được hưởng chế độ tiền lương mà chỉ được hưởng sinh hoạt phí. Từ năm 2003 đến nay, sau khi có Nghị định số 121/2003/NĐ.CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ về chế độ chính sách đối với xã, phường, thị trấn, công chức cấp xã mới được hưởng chế độ tiền lương thay cho chế độ sinh hoạt phí. Do vậy thu nhập của công chức cấp xã được cải thiện. Tuy vậy, chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã cũng còn nhiều bất hợp lý, còn có sự phân biệt, chưa đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, bình đẳng giữa công chức cấp xã với công chức cấp trên.
Điều kiện, môi trường, trang thiết bị, phương tiện làm việc, kinh phí hoạt động cho công chức cấp xã còn rất khó khăn. Đặc biệt là khu vực miền 11 Luan van núi vùng cao, diện tích quá lớn, địa bàn hoạt động phức tạp, phương tiện trang thiết bị làm việc thiếu thốn. Trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách các nhà quản lý cần quan tâm chú ý đến các đặc điểm trên nhằm tạo động lực làm việc tích cực cho công chức cấp xã. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã Công chức trong bộ máy hành chính có vị trí, vai trò, đặc biệt quan trọng trong quản trị đất nước.
Đội ngũ này là linh hồn, là người quyết định chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý đất nước, chất lượng của nền hành chính. Chính vì vậy, một trong những mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 là xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp và hiện đại, chuyển từ chức năng quản lý "cai trị" sang chức năng phục vụ nhân dân, xây dựng đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và hội nhập kinh tế quốc tế. Như vậy, công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng: Thứ nhất, công chức cấp xã vừa là người trực tiếp tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vừa là người phản ánh nguyện vọng của nhân dân đến với Đảng và Nhà nước; góp phần điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi cho đúng và phù hợp với thực tiễn. Như vậy, công chức cấp xã có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân.
Bên cạnh đó, công chức cấp xã cũng là những người trực tiếp hòa giải những xung đột, mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức cấp xã có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước. Công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Không có đội 12 Luan van ngũ công chức ở cơ sở vững mạnh thì dù có đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực.