Chương 1 : Môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài : cơ sở lý luận và kinh nghiệm của một số địa phương. Chương 2 : Thực trạng môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nghệ An. Chương 3 : Giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới. 9 Chƣơng 1 MÔI TRƢỜNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 1.
Khái luận về môi trƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Môi trường nói chung được hiểu một cách đơn giản là một không gian hữu hạn bao quanh những sự vật hiện tượng, yếu tố hay một quá trình hoạt động nào đó như môi trường nước, môi trường văn hoá, môi trường sống, môi trường kinh doanh… Môi trường đầu tư là một thuật ngữ đã được đề cập nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thực thi chính sách đổi mới mở cửa hội nhập với thế giới thì vấn đề môi trường đầu tư và hoàn thiện môi trường đầu tư được đặt ra là một giải pháp hữu hiệu cho nền kinh tế, và nó đã thực sự đem lại hiệu quả. Môi trường đầu tư là một thuật ngữ không phải mới mẻ nhưng đến nay vẫn có rất nhiều tranh luận về khái niệm này.
Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu về môi trường đầu tư: Theo Wim P.Vijverberg : Môi trường đầu tư bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp [19, tr 20]. Với khái niệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng. Một khái niệm hẹp hơn và chủ yếu liên quan chặt chẽ, gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh đó là môi trường kinh doanh.
Môi trường kinh doanh có thể được hiểu là “ toàn bộ các yếu tố tự 1 nhiên, kinh tế, xã hội có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự hình thành và phát triển kinh doanh” [19, tr 28]. Theo World Bank, 2004 : Môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù của địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất [33, tr 26]. Tập hợp những yếu tố đặc thù này bao gồm hai thành phần chính là chính sách của chính phủ (mềm) và các nhân tố khác liên quan đến qui mô thị trường và ưu thế địa lý (cứng). Hai thành phần này sẽ tác động đến ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, mức độ rủi ro trong đầu tư và những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư.
Dựa vào việc cân nhắc ba khía cạnh này nhà đầu tư sẽ xác định những cơ hội và động lực đầu tư đến một quốc gia hay một địa phương nào đó. Riêng đối với môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là môi trường có thể thay đổi và chịu sự chi phối của Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, thay đổi khi nước tiếp nhận đầu tư ký kết hoặc gia nhập Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, khu vực và địa phương. Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu được xác định theo hai cách tiếp cận sau: Thứ nhất, dựa vào các nhóm nhân tố chính tác động đối với hoạt động đầu tư, môi trường đầu tư theo cách tiếp cận này bao gồm các nhóm yếu tố chính sau: khung chính sách đối với hoạt động FDI, nhóm nhân tố kinh tế, nhóm nhân tố hỗ trợ kinh doanh. Thứ hai, dựa vào quy trình hình thành và hoạt động đầu tư, môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các giai đoạn: thành lập, hoạt động và giải thể hay phá sản doanh nghiệp FDI.
Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài theo cách tiếp cận này được quan niệm là: “Tổng thể các yếu tố, chính sách của nước tiếp nhận đầu tư có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình thành lập, hoạt động và giải thể hay phá sản doanh nghiệp nước đi đầu 1 tư”. Các yếu tố này bao gồm chính sách của một quốc gia đối với FDI, cơ sở vật chất, trình độ lao động và tình hình an ninh chính trị … ở nước tiếp nhận đầu tư. Như vậy, môi trường đầu tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độ rủi ro thấp. Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơ chế ưu đãi đầu tư của nước chủ nhà, điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng kinh tế, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính - pháp lý, khả năng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ mở của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống thị trường.
Các nhân tố trên có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư, nhất thiết phải quan tâm xử lý đồng bộ các nhân tố ảnh hưởng trên. Các nhân tố tác động đến môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các nhân tố tác động hành vi đầu tư được tổng kết qua một số mô hình kinh tế.
Nói một cách tổng quát, đầu tư là để mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thị trường, tăng lợi nhuận. Như vậy hành vi đầu tư của các nhà đầu tư trước hết phụ thuộc vào nhận định về cơ hội kinh doanh. Đứng trước một cơ hội kinh doanh, nhà đầu tư sẽ hoạch định một kế hoạch đầu tư. Để phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp, có nhiều mô hình được phần lớn các nhà kinh tế tán thành như: mô hình hành vi đầu tƣ của doanh nghiệp tiếp cận theo theo nguyên lý gia tốc của Barro và Sala-i-martin, theo đó, đầu tư phụ thuộc dự đoán của doanh nghiệp về sản lượng thị trường trong tương lai, cách tiếp cận này coi trọng doanh số nhưng bỏ qua khía cạnh chi 1 phí của tư bản.
Mô hình đầu tƣ theo lý thuyết tân cổ điển của Solow cho rằng, doanh nghiệp sẽ dựa vào lợi nhuận để xác định đầu tư và đầu tư đạt tối ưu khi doanh thu biên của tư bản bằng chi phí đơn vị của tư bản và giá cả của sản phẩm cũng là một yếu tố tác động tới quyết định đầu tư, khi giá sản phẩm tăng sẽ kéo theo doanh thu tăng, nếu chi phí không đổi thì đầu tư có lợi và nhu cầu đầu tư lại phát sinh. Mô hình ngoại tác của Romer và Lucas cho rằng một dự án đầu tư có thể không chỉ đem lợi cho bản thân nó mà còn đem lại lợi ích cho các dự án của các nhà đầu tư khác và toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là giúp phát triển vốn con người; và nhiều mô hình khác …[18, tr 18]. Qua các mô hình này có thể tổng kết một cách vắn tắt về các nhân tố có thể tác động tới hành vi đầu tư: 1. Sự thay đổi trong nhu cầu.
Dự đoán về tăng nhu cầu sẽ làm tăng đầu tư. Chiều hướng tác động của lãi suất còn tuỳ thuộc vào đặc điểm thị trường tài chính và cấu trúc tài chính đặc trưng của các doanh nghiệp trong từng ngành. Mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính phát triển có tác động hỗ trợ cho đầu tư.
Đầu tư công cộng. Chiều hướng tác động còn tùy thuộc vào cấu trúc của đầu tư công cộng. Khả năng về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực càng phát triển càng hỗ trợ cho đầu tư.
Các dự án đầu tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành có mối liên kết. Tình hình phát triển công nghệ, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ. Mức độ ổn định về môi trường đầu tư, bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô, pháp luật. Các quy định về thủ tục.
Các quy định càng đơn giản, rõ ràng, càng làm giảm chi phí giao dịch và do đó càng hỗ trợ cho đầu tư. Mức độ đầy đủ về thông tin, kể cả thông tin về thị trường, luật lệ, thủ tục, về các tiến bộ công nghệ, …[18, tr 24]. Lý thuyết về thể chế và môi trường đầu tư. Theo Douglass North - một nhà kinh tế học hàng đầu về thể chế và đoạt giải Nobel cho các công trình của mình - thể chế (institutions) được định nghĩa là “các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác giữa người với người” [18, tr 27].
Thể chế bao gồm các thể chế chính thức (formal institutions) và phi chính thức (informal institutions). Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa,… Thể chế là yếu tố cấu thành quan trọng của môi trường đầu tư. Nhà kinh tế học Douglass North đã trả lời câu hỏi này rằng: sự khác biệt về chất lượng thể chế cuối cùng sẽ dẫn đến sự khác biệt về thành quả của phát triển. Việc phát triển kinh tế học thể chế dựa trên các hạn chế của kinh tế học tân cổ điển về giả định thông tin hoàn hảo, thể chế hoàn hảo, chi phí thị trường cho các giao dịch kinh tế bằng không [18, tr 33].
Như chúng ta biết, nền tảng của nền kinh tế thị trường là dựa trên trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các cá nhân và nhóm người với nhau. Nếu không có thể chế thì các hoạt động này không thể diễn ra bởi vì người này không thể tương tác với người khác mà không có sự mặc định chung về cách người kia sẽ đáp lại và một sự chế tài nào đó nếu người kia hành động tuỳ tiện và ngược lại với thỏa thuận. Các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê mướn lao động, đầu tư nếu họ có một mức độ tin tưởng nhất định rằng các thỏa thuận hợp đồng của họ sẽ được thực hiện. “Lấy một ví dụ, tại sao bạn mang tiền đến ngân hàng, đưa 1 tiền cho họ và chỉ nhận một tờ giấy mà bạn không thấy lo lắng là tiền của mình sẽ bị mất?