Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm văn hoá pháp luật Nghiên cứu về văn hoá PL đòi hỏi phải tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá như khái niệm văn hoá, chức năng của văn hoá cũng như vai tro của nó trong đời sống kinh tế xã hội. Văn hoá là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nhà nghiên cứu thường đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về văn hoá nhằm phục vụ cho những mục tiêu nghiên cứu cụ thể của họ.
Cho đến tận hôm nay, những định nghĩa đang được sử dụng, trên thực tế vẫn chỉ là những định nghĩa có tính chất quy ước nhằm đi tới một khái niệm để tiện sử dụng. Ngay từ giữa thế kỷ XX, hai nhà văn hoá học Hoa Kỳ A.Kluckhln đã thống kê được khoảng 150 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Ngày nay, số lượng các định nghĩa về văn hoá đã tăng lên rất nhiều, hiện nay có học giả còn cho là đã có trên 300 định nghĩa văn hoá. Có thể phân thành các loại định nghĩa miêu tả, định nghĩa lịch sử, định nghĩa chuẩn mực, định nghĩa nguồn gốc.
Chẳng hạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì /é sinh ton cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát mình ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, PL, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh ton’ [40, tr. Có thể coi đây là một định nghĩa khá toàn diện về văn hoá, không quá rộng cũng không quá hẹp mà hoàn toàn thích hợp với con người ở những trình độ phát triển khác nhau, ở những xã hội chưa có điều kiện phát triển cao, cũng như xã hội đã có cuộc sống cao.
Hay GS Trần Quốc Vượng thì cho rằng: “Văn hoá là thế ứng xử, năng động của một cộng đồng (ứng xử tập thể) hay một cá nhân đứng trước thiên nhiên, xã hội và đứng trước chính mình. Văn hoá là lối sống, là nếp sống tập thể và cá nhân” [89, tr. Gần đây UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hoá khi đặt nó trong mối quan hệ với phát triển: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của méi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [80, tr. Theo cách hiểu này thì văn hoá trong một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi sau: + Các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố về ý thức).
+ Những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực đó. + Năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần. Tựu trung lại văn hoá được hiểu là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, bên cạnh những giá trị chung của nhân loại, văn hoá gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và phản ánh trình độ văn minh của xã hội. Theo nghĩa hẹp, văn hoá phản ánh hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận.
Văn hoá hướng con người tới chân - thiện - mỹ. Bởi vì, nói đến văn hoá là nói đến con người, văn hoá là một thuộc tính biểu hiện bản chất xã hội của con người. Có thể nói văn hoá là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân mình. Văn hoá là ánh sáng dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả.
Do đó, làm lành mạnh môi trường văn hoá, tạo điều kiện cho văn hoá phát triển cũng có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển tiến bộ xã hội và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân con người. Trong những năm gần đây, chúng ta đã từng bước chú ý đến sự phát triển của xã hội trong khía cạnh văn hoá day tinh tế của nó. Những nấc thang khác nhau của van hoá có thể coi là những giai đoạn của sự phát triển kế tiếp nhau, mà trong đó, mỗi giai đoạn đều là sản phẩm của quá khứ, đồng thời lại đóng vai trò đặc biệt đối với sự hình thành tương lai. Nhìn ở một khía cạnh nào đó thì sự khác biệt về văn hoá, những điều nan giải trong sự đối thoại giữa các nền văn hoá, theo các nhà lý luận thật ra còn “cơ bản hơn” cả những khác biệt về ý thức hệ hoặc về chế độ chính trị.
Ở các quốc gia, kể cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đại đa số các quốc gia đang trên đường phát triển đều buộc phải định hướng xây dựng cho mình một xã hội “mang những nét đặc thù về văn hoá” tới mức nào đó để khỏi bị đứt đoạn với quá khứ và không bị hãng hụt trước tương lai. Bằng văn hóa, dựa vào văn hoá và thông qua văn hoá là con đường tự nhiên và tất yếu mà loài người dù muốn hay không cũng đều phải thực hiện để tiến tới văn minh. Tất cả những gì mà con người sáng tạo ra, xét trên bình diện ý nghĩa của chúng đối với hiện tại và tương lai đều là văn hóa. Thông qua hệ thống giá trị văn hoá quy định và điều chỉnh hành vi của con người, văn hoá tham gia vào việc kiến tạo nên bộ mặt của tương lai [53,tr.
Như vậy, chúng ta có thể thấy văn hoá là hiện tượng bao trùm lên tất thảy các mặt của đời sống con người, văn hoá có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tao ra, khiến bất kỳ định nghĩa nào đưa ra đều khó có thé bao quát hết nội dung của nó. Văn hoá là tất cả các giá trị do con người sáng tạo trong quá trình sống, nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thân của mình. Cùng với sự vận động của xã hội, những gi còn lại, tồn tại cùng năm tháng va thời gian, khang định được giá tri của nó, đó là các giá trị văn hoá. Trong thời đại ngày nay, văn hoá có một vai trò đặc biệt quan trọng, nó “xuyên suốt cơ thể xã hội” và “thấm sâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của AS99 con người”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII về việc xây dung và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thân của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa la động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội [8, tr. Là một trong những loại hình của văn hoá, văn hoá PL góp phần xây dựng nên “nên tảng tinh thần của xã hội”, góp phần “thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Văn hoá PL là kết quả và quá trình hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực PL. Trên thế giới vào những năm 90 của thế kỷ trước, văn hoá PL (có người gọi là văn hoá pháp lý) đã trở thành thuật ngữ được quan tâm nhiều nhất trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hiện đại.
Lý do có sự quan tâm đặc biệt đó là vì đã có sự thay đổi nhanh chóng trong văn hoá PL ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Đông Âu và các nước trung tâm Châu Âu. Sự thay đổi này đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải nhận dạng nền văn hoá PL ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, văn hoá PL chỉ mới được các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học quan tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm và những cách tiếp cận khác nhau về văn hoá PL.
Theo quan điểm của GS.TS Lê Minh Tâm thì văn hoá PL là: “Tổng thể những giá trị vật chất và tinh than mà con người đã sáng tạo ra trong lĩnh vực PL bao gồm hệ thống quy phạm PL được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hoá PL, những kinh nghiệm và thói quen tích luỹ duoc trong quá trình xây dựng và thực thi PL”[55, tr. Theo quan điểm của PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì: “Văn hoá pháp lý là hệ thống các yếu tố vat chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của PL được thể hiện trong ý thức và hành vi của con người.Văn hoá pháp lý thể hiện trình độ cao của sự tôn trong PL, trình độ tri thức PL của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện PL; các phương thức hoạt động PL đặc thù như của các cơ quan PL, kiểm tra hiến pháp v.; kết quả của hoạt động PL dưới dang san phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiên tư pháp và hành pháp” [50. Lê Thanh Thập lại cho rằng: “Văn hoá PL là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của một hệ thống PL trong xã hội được thể hiện trong các bộ luật, đạo luật và thiết chế xã hội nhằm bảo dam thực hiện nó. Đông thời, các giá trị đó còn được thẩm thấu vào nhận thức và hành động của môi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ”[71.
Ngoai ra còn một số quan điểm khác nữa về văn hoá PL. Như đã lý giải về văn hoá, thì văn hoá nói chung và văn hoá PL nói riêng cùng có chung mục đích là dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả để đạt được những giá trị chân - thiện - mỹ.