CHƯƠNG 1 Chương một trình bày về các vấn đề căn bản như lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài. Qua đó, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được làm rõ thông qua mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể. Phương pháp nghiên cứu, mẫu quan sát và mô hình nghiên cứu cũng được trình bày nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu và các giả thiết liên quan. Cuối cùng, chương một trình bày cấu trúc của đề tài nghiên cứu.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và phương pháp ước lượng thu nhập lãi cận biên 2. Khái niệm về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: Các ngân hàng có hai nguồn thu nhập chính là thu nhập lãi thuần và thu nhập phi truyền thống. Thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa lãi thu được và lãi phải trả.
Thu nhập phi truyền thống bao gồm phí và lệ phí và thu nhập từ các hoạt động khác như kinh doanh ngoại hối. Tổng thu nhập là tổng thu nhập từ lãi và thu nhập phi truyền thống. Tổng thu nhập được kỳ vọng sẽ trang trải chi phí theo thời gian và mang lại lợi tức hợp lý nếu các ngân hàng hoạt động tốt. Thu nhập lãi là kết quả của sự thay đổi giữa phí cho vay và trả tiền gửi.
Chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa của tiền lãi nhận được và tiền lãi phải trả là thu nhập lãi thuần. Lãi cận biên là tỷ lệ thu nhập lãi ròng so với tài sản sinh lãi. Thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin-NIM) được định nghĩa là thu nhập lãi trừ chi phí lãi trên tổng tài sản (Heffernan & Fu, 2008; Kosmidou, Tanna, & Pasiouras, 2005; San & Heng, 2013). Thu nhập lãi được đề cập là các khoản thu nhập mà ngân hàng thu được từ tài sản như tiền lãi từ việc khoản cho vay, thấu chi và tài trợ thương mại.
Các khoản chi phí lãi vay là số tiền trả lãi của ngân hàng cho các khoản nợ của mình liên quan đến các khoản tiền tiết kiệm trong tài khoản của cá nhân hoặc doanh nghiệp và các tài khoản tiền gửi của các ngân hàng khác. Hoạt động truyền thống của ngân hàng liên quan đến việc thu tiền gửi và cho vay, qua đó ngân hàng trả cho người gửi tiền với lãi suất thấp hơn và sử dụng số tiền đó để cho vay với mức lãi suất cao hơn. Do đó, chỉ số NIM càng cao cho thấy hiệu suất sinh lời của ngân hàng càng cao với điều điện chất lượng tài sản được duy trì tốt. Nếu tài sản của ngân hàng có chất lượng kém, điều đó có nghĩa là ngân hàng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ cao hơn, thu nhập từ lãi sẽ giảm trong khi các khoản chi phí dự phòng tăng lên, do đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Tuy nhiên, theo lý thuyết risk-return được Bowman (1980) trình bày trong nghiên cứu của mình thì rủi ro không hoàn toàn có mối quan hệ đồng biến với lợi 8 nhuận. Nghiên cứu của ông đã phân tích 85 ngành công nghiệp của Hoa Kỳ và đánh giá mối quan hệ giữa rủi ro của doanh nghiệp và lợi nhuận của họ. Giải thích cho sự phát hiện bất thường này, nghiên cứu đã đưa ra hai lý do. Thứ nhất, các nhà quản lý giỏi có thể đồng thời tăng rủi ro và giảm lợi nhuận.
Các quyết định đúng của nhà quản lý như phân tính chính xác môi trường cạnh tranh, chiến lược phù hợp và quy trình thực hiện chiến lược là cơ chế tạo ra nghịch lý này. Thứ hai, các nhà quản lý giỏi không phải là người né tránh rủi ro mà trên thực tế họ là là những người tìm kiếm, đánh giá, phân loại rủi ro và kiểm soát chúng. Phương pháp ước lượng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: Lãi cận biên của các ngân hàng có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu phân tích. Lãi cận biên có thể được đo lường theo hai cách, tiên liệu (ex-ante) và thực tế kỳ hạn (ex-post) (Demie, 2016).
Trong trường hợp tiên liệu, Lãi cận biên là chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay,nghĩa là chênh lệch giữa lãi suất hợp đồng được tính cho các khoản vay và lãi suất trả cho các khoản tiền gửi. Trong trường hợp thực tế kỳ hạn, lãi cận biên có thể được tính là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi vay trong kỳ hạn đang xem xét, nghĩa là chênh lệch giữa thu lãi thực tế của ngân hàng và chi phí lãi thực tế của họ. Trong hầu hết các trường hợp, phương pháp thực tế kỳ hạn là phương pháp hữu ích hơn vì nó cho thấy ảnh hưởng của các yếu tố khác đến lãi cận biên và phương pháp này tạo ra kết quả chính xác hơn như là là các ngân hàng có các khoản nợ xấu cao có rủi ro cao hơn. Ngoài ra, phương pháp tiên liệu có vấn đề về sự không nhất quán của dữ liệu, vì dữ liệu thường có sẵn ở cấp độ toàn ngân hàng tổng hợp, được thu thập từ các nguồn ngân hàng khác nhau, trong khi đó lãi suất cho vay có và tiền gửi có thể khác nhau tùy theo hợp đồng.
Mặt khác, phương pháp thực tế kỳ hạn có thể có những thiếu sót của nó, vì thu nhập lãi và trích lập dự phòng tổn thất cho vay có xu hướng hiện thực hóa trong các khoảng thời gian khác nhau (Ash Demirgüç-Kunt & Huizinga, 1999). Mặc dù có sự khác biệt này, hai cách tiếp cận có thể được sử dụng để xác định và phân tích biên lãi ròng trong hệ thống ngân hàng. Do đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp thực tế kỳ hạn để ước lượng hệ số NIM, chênh lệch giữa thu nhập từ lãi mà người đi vay nhận được và chi phí lãi phải trả cho người gửi tiền tiết kiệm. 9 Theo Angbazo (1997) NIM có công thức tính như sau: Thu nhập lãi thuần 𝑁𝐼𝑀 = ∗ 100 Tổng tài sản sinh 𝑙ã𝑖 Như vậy, biên lãi ròng về cơ bản là một tỷ số tài chínhd được tính từ kết quả só sanh giữa thu nhập từ lãi so với tài sản, cũng có nghĩa là chênh lệch giữa lãi tiền gửi và lãi cho vay.
Do đó, hệ số NIM có thể được viết lại như sau: Thu nhập lãi − Chi phí lãi 𝑁𝐼𝑀 = 𝑥100 Tổng tài sản sinh 𝑙ã𝑖 Hệ số NIM cho thấy mức sinh lợi của ngân hàng trong các hoạt động cho vay, đầu tư và các hoạt động tài trợ khác (Ben Naceur & Goaied, 2008). NIM là tỷ số giữa thu nhập từ lãi so với tổng tài sản sinh lãi, cũng có nghĩa là tỷ lệ giữa chênh lệch lãi thu nhập cho vay và lãi tiền gửi. Hệ số NIM cho thấy khả năng quản lý của các ngân hàng trong việc quản lý tài sản sinh lãi để tạo ra thu nhập lãi thuần. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến NIM là rất nhiều và khác nhau giữa các quốc gia hoặc cấu trúc sở hữu của ngân hàng.
Mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố khác nhau giữa các quốc gia do sự khác nhau của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và ngân hàng cụ thể. Vai trò quyết định khác nhau của khác nhau cũng sẽ gây ảnh hưởng khác nhau đối với tỷ suất lợi nhuận ròng. Do đó, việc xác định các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các ảnh hưởng đến NIM là rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà thực hành để đưa ra các quyết định phù hợp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động thể chế và hiệu quả kinh tế. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến NIM có thể được chia thành ba bộ phận: (i) Các yếu tố nội bộ ngân hàng; (ii) Các yếu tố thuộc ngành ngân hàng; (iii) Các yếu tố kinh tế vĩ mô.
Nghiên cứu của Liebeg và Schwaiger (2006) cho rằng hiểu được các yếu tố tác động đến NIM có tầm quan trọng từ quan điểm vĩ mô và cả vi mô. Từ góc độ vĩ mô, việc các cơ quan quản lý biết rằng các yếu tố làm tác động tích cực hoặc tiêu cực đến NIM là do các yếu tố vi mô hay vĩ mô rất quan trọng. Nếu một trong những thành phần tác động chủ yếu đến NIM là lãi suất danh nghĩa thay vì cấu trúc cạnh tranh của hệ thống NHTM, chính phủ phải tập trung vào các biện pháp quản lý hướng đến mục tiêu 10 ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để làm giảm chi phí của các tổ chức tài chính trung gian trong đó có các NHTM. Mặt khác, nếu yếu tố chính tác động đến NIM là sức mạnh thị trường hay cấu trúc cạnh tranh của hệ thống NHTM, thì cơ quan quản lý phải ban hành các chính sách thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM cũng có sự khác biệt đối với khu vực hoạt động chủ yếu về địa lý của các NHTM. Hiện nay sự phát triển của công nghệ 4.0 và quá trình toàn cầu hóa đã diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, tuy nhiên các nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng vẫn còn tồn tại sự khác biệt giữa các yếu tố tác động đến NIM giữa những NHTM thuộc các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển. Kết quả nghiên cứu của Claeys và Vander Vennet (2008) được thực hiện hiện từ các quốc gia thuộc khối Trung và Đông Âu (Central và Eastern European countries-CEEC) đã cho rằng có sự khác biệt đáng kể trong hành vi giữa các ngân hàng thuộc các nước đang phát triển và các nước phát triển, nghiên cứu kết luận rằng các ngân hàng thuộc các nước đang phát triển có tỷ lệ NIM tương đối cao hơn so với các nước đang phát triển. Sự khác biệt này chủ yếu đến từ áp lực cạnh tranh trên thị trường liên ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu này lần nữa được công trình của Berger, Molyneux, và Wilson (2020) khẳng định, tuy nhiên nghiên cứu còn cho rằng điều kiện cạnh tranh ở các thị trường khác nhau và hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể tác động tiêu cực đến NIM. Nghiên cứu của Naceur (2003) cho rằng giả thuyết hoạt động cấu trúc truyền thống, các ngân hàng có thị trường tập trung có xu hướng liên kết và chia sẽ thông tin trong việc thiết lập biên lãi suất nhằm làm gia tăng lợi nhuận của họ.