Chương 1: Lý luận cơ bản về quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 14 CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng ngân hàng. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về NHTM: Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 16 tháng 06 năm 2010 định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận [V31]; [V23]; [V18].
Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Luật NHNN định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản [V31]; [V23]; [V18]. Như vậy, khái niệm về NHTM được phát biểu như sau: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Chức năng của Ngân hàng thương mại 1.
Chức năng làm trung gian tín dụng Trong nền kinh tế tại một thời điểm luôn tồn tại tình trạng: có một số lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể chưa cần dùng đến, mặt khác lại có một số lượng chủ thể khác tạm thời thiếu vốn để hoạt động, kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng, v. Để giải quyết tình trạng này thì NHTM với vai trò là trung gian, là nhịp cầu nối liền chủ thể thừa và thiếu vốn trong nền kinh tế lại với nhau, là người “đi vay để cho vay”. Hoạt động tín dụng của NHTM đã góp phần khắc phục các hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu tiền tệ bổ sung. Với chức năng này, NHTM làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu cho các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau và điều này có một vai trò kinh tế to lớn đối với nền kinh tế.
Chức năng trung gian thanh toán Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Kế thừa và phát triển chức năng “thủ quỹ của các doanh nghiệp” nên hầu hết NHTM thực hiện nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền hàng hóa và dịch vụ cá nhân, doanh nghiệp, v.theo lệnh của chủ tài khoản [V31]; [V23]; [V18]. Khách hàng sẽ mở tài khoản tại các NHTM và ra lệnh cho ngân hàng thực hiện khoản chi trả hoặc ủy nhiệm cho ngân hàng thu các khoản từ người mua, v. Như vậy, các doanh nghiệp không phải thực hiện các công việc mất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không đảm bảo như đếm tiền, nhận tiền, v.
trong quá trình thanh toán với các đối tác trong nền kinh tế. 16 Chức năng làm trung gian thanh toán của NHTM ngày nay không chỉ đơn thuần và mang tính truyền thống như trước, mà cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, v. đã tạo điều kiện cho các NHTM thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử trực tuyến, v. với nhau nhanh chóng và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, thúc đẩy luân chuyển vốn và quá trình lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển.
Đối với khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một số tài khoản để thuận tiện việc chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lợi khác như các chương trình khuyến mại về phí dịch vụ, liên kết, thanh toán v. Chức năng tạo tiền Quá trình tạo tiền của NHTM được thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng và trong mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống Ngân hàng Trung ương (NHTW) của mỗi quốc gia [V29,V30]. Đây chính là chức năng góp phần gia tăng khối lượng tiền tệ cho nền kinh tế. Như vậy, quá trình tạo tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cho vay của các NHTM luôn luôn có sự trợ giúp của NHTW.
Tuy nhiên, việc tạo tiền có khả năng làm cho các NHTM mất khả năng chi trả tiền mặt và lúc đó NHTW phải cho các NHTM vay để bù đắp thiếu hụt thanh khoản. Bằng việc tạo tiền trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, NHTM đã thể hiện vai trò của mình trong việc góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của NHTW thông qua chính sách tiền tệ. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các NHTM hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên nó tập trung vào ba nghiệp vụ chính là: nghiệp vụ Tài sản có (TSC), nghiệp vụ tài sản nợ (TSN) và nghiệp vụ môi giới khác [V29,V30]. Nghiệp vụ Tài sản nợ Nghiệp vụ TSN bao gồm các hoạt động liên quan đến việc nhận vốn từ người gửi tiền và những người cho vay khác nhau tự quyết định mức góp vốn của mình, một cách thích hợp, vào một ngân hàng đặc biệt nào đó.
Nghiệp vụ TSN còn liên quan đến việc cung cấp cho các nhu cầu về thanh khoản thông qua việc chủ động tìm kiếm thêm vốn vay, khi cần thiết hoặc bán các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu chính phủ, chứng khoản, v. ở thị trường thứ cấp. NHTM thực hiện nghiệp vụ này chính là dùng các biện pháp nhằm huy động, thu hút các nguồn vốn từ khách hàng trong nền kinh tế. Đây là nghiệp vụ quan trọng, tạo nên nguồn tài nguyên cho ngân hàng.
Trên cơ sở đó, ngân hàng sử dụng chúng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, v.bằng các nguồn vốn như: - Nguồn vốn chủ sở hữu. - Vốn huy động: + Tiền gửi không kỳ hạn + Tiền gửi có kỳ hạn. - Vốn đi vay từ NHNN, NHTM khác, vay thị trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài, v. Nghiệp vụ Tài sản có Từ tài nguyên là các nguồn vốn có được từ nghiệp vụ TSN, NHTM sử dụng chúng để đầu tư, cho vay, v.
Do đó nghiệp vụ này phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng theo định hướng đảm bảo an toàn và sinh lời, cụ thể thông qua các nghiệp vụ ngân quỹ (dự trữ tiền mặt), nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán và các nghiệp vụ khác: - Nghiệp vụ ngân quỹ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Mức dự trữ cao hay thấp tùy thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, mối quan hệ thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt. - Nghiệp vụ tín dụng: NHTM vận dụng các hình thức khác nhau của nghiệp vụ tín dụng để tái phân phối quỹ nhằm cung ứng vốn tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, phục vụ nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ, đời sống với mục đích thu được các khoản lợi chủ yếu để trang trải chi phí. Các nghiệp vụ tín dụng cụ thể bao gồm: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
- Nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán: NHTM thực hiện nghiệp vụ này bằng nguồn vốn tự có còn lại sau khi đã dùng vào các yêu cầu thiết yếu khi thành lập ngân hàng thông qua các loại hình đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính. Nghiệp vụ khác Nghiệp vụ khác là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một loạt các dịch vụ liên quan: chuyển tiền, thông qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng tại ngân hàng như phát hành séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, môi giới chứng khoán, quản lý hộ tài sản cho khách hàng, tư vấn cho doanh 19 nghiệp., ngân hàng sẽ nhận được một khoản thu dưới hình thức hoa hồng, phí [V29,V30]. Ngày nay, xu hướng của ngân hàng là hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nghiệp vụ có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận cao nhất.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Các rủi ro của ngân hàng thương mại có thể được chia làm 4 loại: rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động, rủi ro kinh doanh và rủi ro sự kiện [V26] - Rủi ro tài chính (financial risk) được chia làm 2 loại: rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ. Rủi ro thuần túy bao gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh toán - những rủi ro có thể gây ra tổn thất cho ngân hàng nếu như không được quản lý một cách triệt để. Rủi ro đầu cơ phát sinh từ việc mua bán các sản phẩm tài chính. Nếu quyết định mua bán đúng sẽ tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, ngược lại nếu sai sẽ gây ra mất mát.
Các rủi ro đầu cơ chính bao gồm: rủi ro ngoại hối và RRLS (rủi ro thị trường). - Rủi ro hoạt động (operation risk) liên quan đến cơ cấu tổng thể của một ngân hàng cũng như chức năng của các hệ thống nội bộ (bao gồm hệ thống máy tính và các hệ thống công nghệ liên quan khác) cùng với các chính sách, quy trình, quy định của ngân hàng.