LỜI NÓI ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi. Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng không chỉ gây ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính ngân hàng mà còn có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị của một quốc gia. Vì vậy để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế các rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.
Một trong những rủi ro đặc thù và khó phòng ngừa nhất của NHTM là rủi ro lãi suất. Khi lãi suất thị trường thay đổi, những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với tiền gửi và các nguồn vay của ngân hàng đều bị tác động. Những thay đổi của lãi suất thị trường có thể tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng do làm tăng chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản và hạ thấp giá trị nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Vì vậy, sự biến động của lãi suất tác động đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất thì các ngân hàng có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này, thậm chí đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản. Mà chúng ta đều đã biết rằng sự sụp đổ của một NHTM có thể gây ra sự sụp đổ hàng loạt trong toàn bộ hệ thống các NHTM do mối quan hệ mật thiết, tương tác giữa các NHTM từ đó dẫn đến khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế. Thực tế này đã từng xảy ra ở Mỹ vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, khi lãi suất thị trường tăng cao ở mức kỉ lục thì nhiều ngân hàng Mỹ đã phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề do các ngân hàng này sử dụng vốn huy động tiền gửi tiết kiệm để cho vay bất động sản với mức lãi suất cố định. Hơn một ngàn các ngân hàng nhỏ, các tổ chức nhận tiết kiệm và cho vay đã lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đòi hỏi phải có sự trợ giúp.
Không ít trong số các ngân hàng này đã phá sản. Các ngân hàng khác thua lỗ liên tiếp trong hai năm tiếp theo mặc dù họ luôn làm ăn có lãi trong suốt thập kỉ trước đó. Chính sự không cân xứng về kì hạn và việc áp dụng mức lãi suất cố định, kết hợp với sự tăng lãi suất đột ngột của thị trường đã gây nên hậu quả nặng nề trên tạo nên sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Mỹ. Ngoài ra, những biến động lớn về lãi suất trên thị trường tín dụng quốc tế trong những thập kỉ gần đây đã khiến các ngân hàng phải đối mặt với một môi trường hoạt động hoàn toàn mới và không thể dự báo trước.
Một ví dụ rõ nét khác về những thua lỗ nặng nề gây ra bởi rủi ro lãi suất là trường hợp của First Bank System Inc of Mineapolis. Các nhà quản lý First bank đã dự đoán lãi suất giảm vào cuối thập kỉ 80 nên đã mua một lượng lớn trái phiếu chính phủ. Không may lãi suất tăng làm cho giá trái phiếu giảm mạnh, First Bank công bố khoản lỗ 500 triệu USD và buộc phải bán toà nhà trụ sở chính của ngân hàng này. Năm 1987 Merrill Lynch mất 350 triệu USD do việc nắm chứng khoán thế chấp khi lãi suất tăng đột ngột.
Morgan mất 200 triệu USD trong trường hợp tương tự khi lãi suất thị trường giảm đột ngột. Ở Việt Nam, từ tháng 8/2000 đến giữa năm 2002 NHNN điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản. Với cơ chế này, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) vừa chứa đựng yếu tố thị trường vừa chứa đựng yếu tố can thiệp hành chính của NHNN. Sau gần hai năm thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản, cho đến nay có thể coi lãi suất VND đã được xác định hoàn toàn dựa trên quy luật cung - cầu về tín dụng trên thị trường.
Trên tinh thần đó, ngày 30/5/2002 NHNN đã ra quyết định số 546/2002/QĐ - NHNN quy định: từ ngày 1/6/2002 lãi suất cho vay bằng VND được thực hiện theo cơ chế lãi suất thả nổi (tức lãi suất thị trường) nhằm giảm sự can thiệp hành chính của NHNN đối với các TCTD, tạo điều kiện để các TCTD tăng quyền chủ động trong kinh doanh và quản lý kinh doanh có hiệu quả, góp phần thúc đẩy thị trường tài chính - tiền tệ phát triển. Như vậy, lãi suất sẽ thay đổi thường xuyên và khó dự đoán, điều này làm cho các NHTM Việt Nam thực sự phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lãi suất. Trong những năm gần đây, các NHTM và các cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dành nhiều thời gian và công sức để phát triển hệ thống giám sát và quản lý rủi ro lãi suất nhằm tách biệt danh mục tài sản có, tài sản nợ và lợi nhuận của ngân hàng khỏi ảnh hưởng tiêu cực do sự biến động ngoài dự kiến của lãi suất. Dù lãi suất thay đổi, các ngân hàng luôn mong muốn đạt được thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định.
Đây cũng chính là mục tiêu của các ngân hàng trong công tác quản lý rủi ro lãi suất. Ở Việt Nam hiện nay, quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro lãi suất nói riêng đang trở thành một trong những nội dung cần phải quan tâm hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của một ngân hàng hiện đại. Lĩnh vực này càng trở nên đặc biệt quan trọng khi mà các NHTM Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hội nhập khu vực và quốc tế mà ở đó quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro lãi suất nói riêng được xem là một yếu tố quan trọng để xác định đẳng cấp, vị thế và giá trị của các ngân hàng. Việc gia nhập WTO mang lại cho nền kinh tế Việt Nam và hệ thống các NHTM rất nhiều cơ hội phát triển những cũng buộc chúng ta đối mặt với vô vàn những khó khăn thách thức.
Để đứng vững và tiếp tục phát triển, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải bắt kịp với thời đại, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng hoạt động, nhằm đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và sinh lời. Một trong các biện pháp mà các NHTM cần phải làm là nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro mà đặc biệt là rủi ro lãi suất. Hiện nay, các NHTM đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề quản lý rủi ro lãi suất và thành lập các cơ quan nghiên cứu, quản lý rủi ro lãi suất như các uỷ ban quản lý tài sản có - tài sản nợ (ALCOs), phòng dự báo lãi suất, xây dựng đội ngũ chuyên gia về quản lý rủi ro lãi suất… Tuy nhiên, trình độ hiểu biết về rủi ro lãi suất cũng như các nghiệp vụ phòng chống rủi ro lãi suất của các NHTM Việt Nam còn nhiều hạn chế đặc biệt là trong việc lượng hoá rủi ro lãi suất và thực hiện các nghiệp vụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất. Chính vì vậy, em đã quyết định chọn đề tài "Quản lý rủi ro lãi suất trong các NHTM Việt Nam" để có thể tìm hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ về vấn đề quản lý rủi ro lãi suất và các phương pháp tiên tiến mà các nước trên thế giới hiện nay đang áp dụng để quản lý rủi ro lãi suất.
Song với kiến thức chưa đầy đủ và thời gian có hạn, bài viết của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy các cô và các bạn để bài viết của em có thể hoàn thiện hơn. Cuối cùng, em xin chân thành cám ơn cô giáo - tiến sĩ Phan Thị Thu Hà đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài viết này, cám ơn ban quản lý thư viện đại học Kinh tế quốc dân và ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu để hoàn thành bài viết. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT.
Khái niệm rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất hiểu theo nghĩa hẹp là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Loại rủi ro này phát sinh trong quan hệ tín dụng theo đó ngân hàng hoặc công ty đi vay hoặc có những khoản cho vay theo lãi suất thả nổi. Nếu đi vay theo lãi suất thả nổi, lãi suất thị trường tăng làm chi phí trả lãi tăng theo. Ngược lại, nếu cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường xuống thấp làm thu nhập từ lãi vay giảm.
Rủi ro lãi suất đặc biệt quan trọng khi nào chúng ta có những khoản vay hoặc đầu tư tài chính khá lớn theo lãi suất thả nổi trên thị trường. Để hiểu rõ thêm về rủi ro lãi suất, ta xét ví dụ sau: Giả sử ngân hàng A có nhu cầu cho vay 2 món: - 100 triệu, thời hạn 1 năm với lãi suất cố định là 10%/năm (thời gian đặt lại lãi suất là 1 năm). - 100 triệu thời hạn 2 năm, với lãi suất cố định là 11%/năm (thời gian đặt lại lãi suất là 2 năm). Ngân hàng A tìm kiếm nguồn cho vay bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng 200 triệu với lãi suất cố định là 6%/ năm nếu vay 1 năm và 7%/năm nếu vay 2 năm.
Tình trạng tái tài trợ (kì hạn của tài sản lớn hơn kì hạn của nguồn tiền) Giả sử ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng kì hạn 1 năm. Sau 1 năm, 100 triệu cho vay được trả và 200 triệu đi vay cần trả. Đối với khoản cho vay 1 năm ngân hàng thu được chênh lệch lãi suất là: 10% - 6% = 4% Để có tiền trả 100 triệu còn lại, ngân hàng cần vay thêm 100 triệu trên thị trường liên ngân hàng (tái tài trợ). Chênh lệch lãi suất mà ngân hàng thu được phụ thuộc vào lãi suất mà ngân hàng phải trả khi tái tài trợ.