CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về tình bạn và chất lượng tình bạn của học sinh trung học phổ thông Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình bạn, chất lượng tình bạn của trẻ vị thành niên tương đối đa dạng. Các khía cạnh nghiên cứu về nhận thức, xây dựng, mức độ ảnh hưởng của tình bạn, đối tượng… đối với trẻ vị thành niên. Tình bạn được đề cập ở nhiều thập kỷ trước, Sullivan (1953) xem tình bạn như một sự hiện diện mạnh mẽ trong cuộc sống của những đứa trẻ phát triển. Dựa trên lí thuyết của Sullivan về tầm quan trọng của tình bạn cho thấy các giai đoạn khác nhau thì những nhu cầu về tình bạn và nhận thức về tình bạn cũng khác nhau [50].
Tình bạn không đơn giản là sự gần giữ mối quan hệ đôi bên. Theo tác giả Furman và Buhrmester (1985) chỉ ra rằng tình bạn có sự thân thiết và tình cảm [42]. Bên cạnh đó tình bạn còn giúp chúng được bảo vệ không bị bạn bè đồng trang lứa bắt nạt hoặc là nạn nhân của bắt nạt [49]. Tóm lại, việc duy trì một tình bạn tốt có những tác động tích cực giúp ngân cao giá trị bản thân, bảo vệ khỏi sự bắt nạt.
Nghiên cứu về lợi ích của tình bạn đã chỉ ra rằng tình bạn thúc đẩy sự phát triển tích cực gồm kỹ năng, quan điểm và nhận thức xã hội. Điều này mang lại cảm giác tích cực về bản thân và nhưng người khác cũng như sức khỏe tâm lý và hạnh phúc tích cực [17]. 8 Nghiên cứu về tình bạn trong thời thơ ấu của tác giả Thomas (1982) đánh giá tình bạn ở lứa tuổi thanh thiếu niên đặc biệt mãnh liệt và có ý nghĩa đối với sự phát triển tâm lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ thân thiết của các mối quan hệ bạn bè tăng lên đáng kể giữa thời thơ ấu và đầu tuổi vị thành niên.
Trong các tình huống cạnh tranh, trẻ ở lứa tuổi đầu vị thành niên hành động thân thiện với bạn bè hơn so với trẻ nhỏ hơn vì chúng thường cố gắng đạt được kết quả bình đẳng cả hai bên cùng hài lòng. Trong giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, bạn bè có xu hướng giống nhau đối với trường học và đối với văn hóa đồng trang lứa (nhạc rock, thời trang, v. Sự giống nhau một phần là do việc lựa chọn những người bạn giống mình và một phần do ảnh hưởng của những người bạn với nhau. Theo một số cách khác, tình bạn ở lứa tuổi thanh thiếu niên về cơ bản không khác biệt đáng kể so với tình bạn giữa những đứa trẻ nhỏ hơn hoặc những người ở tuổi vị thành niên muộn.
Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng sự ổn định của các mối quan hệ bạn bè ít thay đổi giữa lớp bốn và lớp mười một. Các bé gái thường có nhiều tình bạn thân thiết hơn các bé trai. Các đặc điểm của tình bạn giai đoạn đầu ở tuổi vị thành niên dường như được xác định một phần bởi những thay đổi về mặt sinh học, xã hội và nhận thức trong giai đoạn này của cuộc đời. Tác động của những tình bạn này đối với sự phát triển nhân cách và xã hội đã được thảo luận rộng rãi [17].
Cùng chung quan điểm trên tác giả Catherine và Bagwell (2020) cũng đưa ra nhận định tình bạn của trẻ em là những mối quan hệ đặc biệt dựa trên sự yêu thích và quý mến lẫn nhau. Tình bạn có vai trò vô cùng quan trọng góp phần vào sự phát triển xã hội, cảm xúc và nhận thức cũng như sự điều chỉnh và hạnh phúc của học sinh. Ngoài ra để đánh giá tính đa chiều của tình bạn cần xét đến các yếu tố như sự tham gia của trẻ em vào mối quan hệ bạn bè, sự ổn định và số lượng bạn bè, chất lượng tình bạn, các đặc điểm của bản thân trẻ và bạn bè của chúng. Tình bạn và địa vị bạn bè đồng trang lứa đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xã hội của thanh thiếu 9 niên.
Những thanh thiếu niên kết bạn với những người dễ mến hơn thường có chất lượng tình bạn cao hơn. Với những người bạn dễ mến thì mức độ đồng cảm cao hơn nên thanh thiếu niên hài lòng hơn trong tình bạn đối với những bạn dễ mến [17]. Ngoài ra khi nghiên cứu về chất lượng tình bạn thời thơ ấu của tác giả Catherine và Bagwell (2020) cho rằng chất lượng tình bạn phản ánh số lượng tích cực và tiêu cực xuất hiện trong mối quan hệ. Phẩm chất tình bạn là một khía cạnh của tình bạn, nơi có sự khác biệt về giới tính [17].
Nghiên cứu về các khía cạnh của chất lượng tình bạn ở tuổi vị thành niên tác giả Antonius và công sự (2005) khảo sát trên 224 thanh thiếu niên đưa ra kết quả năm khía cạnh của chất lượng tình bạn gồm xung đột, gần gũi, đồng hành, giúp đỡ và an toàn. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự hung hăng có liên quan đến nhận thức của bản thân và bạn bè về xung đột tình bạn, mối quan hệ có sự hung hăng thì chất lượng tình bạn tích cực thấp. Hành vi xã hội gắn liền với nhận thức của bản thân và bạn bè về chất lượng tình bạn tích cực và ít xung đột [34]. Một khía cạnh cũng dễ bị bỏ quên khi nghiên cứu đã được tác giả François Poulin, Alessandra Chan (2010) chỉ ra là mức độ ổn định về thời gian khác nhau qua các trải nghiệm tình bạn và các giai đoạn phát triển của trẻ vị thành niên [42].
Tác giả Catherine và Bagwell (2020) đưa ra thước đo chất lượng tình bạn gồm các khía cạnh tích cực như sự thân mật, an toàn, tình cảm, giúp đỡ, đồng hành đó là những đại diện cho những mong đợi mà trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn mong đợi [17]. Nghiên cứu về chất lượng tình bạn trên những nhóm đối tượng đặc biệt cũng đưa ra nhiều khía cạnh. Theo đó tác giả Leigh A. Tipton và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 103 trẻ thanh thiếu niên 13 tuổi có hoặc không có khuyết tật ở Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng trẻ thanh thiếu niên khuyết tật trí tuệ có 10 tình bạn với đặc điểm ấm áp gần gũi và tích cực có đi có lại thấp hơn đáng kể so với các bạn phát triển thông thường.
Sự khác biệt dường như do bị ảnh hưởng bởi các vấn đề về hành vi và kỹ năng xã hội ban đầu của trẻ khuyết tật trí tuệ [91]. Một nghiên cứu khác của tác giả Ngô Bình Minh (2021) về xây dựng tình bạn nghiên cứu trên đối tượng trẻ vị thành niên ở Làng trẻ SOS chỉ ra rằng trẻ vị thành niên chủ yếu chơi với các bạn trong Làng do cùng hoàn cảnh và một số bạn phải chịu kì thị đến từ những người bạn tại nơi các em theo học. Đa số các em đều đồng ý rằng tình bạn có vai trò nhất định trong cuộc sống. Ngoài ra cũng có một số ý kiến cho rằng tình bạn có vai trò tiêu cực đối với trẻ hay những vai trò phục vụ mục đích cá nhân.
Các mối quan hệ của trẻ còn hạn chế khi số lượng bạn bị giới hạn khiến chúng gặp khó khăn, trở ngại trong việc thiết lập những mối quan hệ mới và có sự tương tác lẫn nhau [9]. Có thể thấy tình bạn lứa tuổi THPT đa dạng và có sự khác biệt ở nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Điều đó cũng là một cơ sở để có thể mở rộng nghiên cứu cho đề tài sau này. Nghiên cứu về chất lượng tình bạn theo giới tính cũng chỉ ra có sự khác biệt về giới giữa các khía cạnh của chất lượng tình bạn.
Học sinh nữ thường cho biết có mức độ gần gũi và bộc lộ, hỗ trợ tình cảm cao hơn so với học sinh nam, nhưng khía cạnh như tình bạn hay thời gian có ít sự khác biệt về giới hơn [17]. Ngoài ra, nghiên cứu của Maureen và Alan trẻ gái đánh giá mức độ của sự giúp đỡ, tin tưởng, gần gũi và tổng điểm chung cao hơn so với những trẻ nam [96]. Nghiên cứu về chất lượng giáo dục và tình bạn cho thấy những trẻ có thành tích học tập ở lớp hai cao dự đoán chất lượng tình bạn tích cực ở lớp 3, và những trẻ có tình bạn chất lượng cao ở lớp 3 có thành tích học tập tốt ở trường trong những năm học tới [100]. 11 Nghiên cứu về ý nghĩa chất lượng tình bạn.
Chất bạn tình lượng cao có những điểm tích cực trong cuộc sống, chất lượng tình bạn có thể cung cấp nhiều yếu tố bảo vệ cho trẻ. Ngoài ra, chất lượng tình bạn cũng dự báo kết quả học tập, xã hội và tâm lý của cá nhân [55]. Chất lượng cao của tình bạn có thể mang lại sự gần gũi, tin cậy, giúp đỡ và an ninh, và có tác động tích cực đến quá trình độc lập của mỗi cá nhân [77]. Nghiên cứu về chất lượng tình bạn trong đại dịch Covid 19.
Tình bạn là điều quan trọng và có thể bảo vệ chống lại trầm cảm như việc giảm bớt cô đơn. Tuy nhiên, sự cô lập trong thời gian giãn cách xã hội có thể ảnh hưởng đến trẻ vị thành niên đặc biệt là tình bạn trong giai đoạn này, vì tương tác bạn bè bị hạn chế trong giai đoạn này. Nếu thanh thiếu niên có tình bạn tốt hơn trước cuộc khủng hoảng Covid 19 thì có ít các vấn đề tâm lý hơn trong cuộc khủng hoảng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những thanh thiếu niên thường xuyên dành thời gian cho bạn bè (cả trực tuyến và ngoại tuyến) có hưởng lợi nhiều hơn từ sự hỗ trợ của bạn bè so với thanh thiếu niên ít gặp gỡ liên hệ với những người bạn hỗ trợ mình [19].
Ngoài ra, đối với những trẻ vị thành niên có vấn đề về lo âu và trầm cảm thì trong giai đoạn giãn cách xã hội họ có xu hướng xa lánh bạn bè vì ít có cơ hội tương tác với bạn bè và trẻ vị thành niên có tiền sử sức khỏe tinh thần gặp khó khăn trong việc kết nối bạn bè đồng trang lứa [103]. Từ những kết quả nghiên cứu trên đã phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về các nghiên cứu chất lượng tình bạn tuy nhiên vẫn chưa đủ khái quát và sâu sắc. Ở Việt Nam các nghiên cứu về chất lượng tình bạn còn hạn chế về số lượng khi chỉ có nghiên cứu của Trần Văn Công về chất lượng tình bạn và bắt 12 nạt trực tuyến.