CHƯƠNG 1. Sơ lược về khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo Đô thị trung tâm Vùng huyện Tĩnh Gia bao gồm thị trấn Tĩnh Gia và các xã Bình Minh, Hải Thanh, Hải Hòa, Nguyên Bình, Hải Nhân, Ninh Hải, Xuân Lâm; phía Bắc giáp xã Định Hải (khu vực Cầu Hang); phía Nam giáp sông Bạng; phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp xã Phú Lâm (Hình 1. Sơ đồ vị trí đô thị trung tâm vùng huyện Tĩnh Gia Nguồn: Báo cáo Quy hoạch chung xây dựng Đô thị Trung tâm vùng huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030 tầm nhìn đến 2050, Thanh Hóa, 2015 Khu vực này có địa hình đồng bằng xen đồi núi thấp, là vùng bán sơn - địa với cao độ trung bình (+2,50), cao trình mặt đất thay đổi từ (+0,30) đến (+2,50) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong đồng lúa và từ (+2,00) đến (+4,00) trong khu dân cư và đường xá.
Địa mạo có độ dốc thoải dần từ phía đất liền ra biển [4]. Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn Khí hậu mang tính đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hóa, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều. Nhiệt độ không khí trong năm trung bình 250C, cao nhất 380C - 390C, thấp nhất 4,10C vào tháng 12. Độ ẩm tương đối của không khí từ 85 - 87 % và độ ẩm tuyệt đối trung bình từ 24 - 25,4 g/m3, sự chênh lệch độ ẩm giữa các vùng không lớn.
Độ ẩm thấp đi rõ rệt vào các tháng đầu mùa hạ [4]. Gió đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Gió Tây Nam khô nóng từ tháng 4 đến tháng 7 làm mất thế cân bằng nước trong đất và thực vật, gây ra hạn hán có khi rất trầm trọng. Hướng gió thịnh hành từ tháng 3 đến tháng 7 chủ yếu Đông Nam đến Tây Nam, từ tháng 8 đến tháng 10 hướng chính là Tây và Tây Bắc, từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau gió hướng Bắc và Đông Bắc.
Tốc độ gió trung bình khoảng 1,8 m/s, gió mạnh nhất thường là do bão gây ra đạt tới 40 m/s [4]. Mùa mưa bão thường bắt đầu từ tháng 5 và tháng 6, kết thúc vào tháng 10 và tháng 11 trong năm. Bình quân mỗi năm có từ 3 đến 5 trận bão có nguy cơ đổ bộ vào Thanh Hóa mà Tĩnh Gia là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp [4]. Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm trong khu vực khoảng 870 mm.
Mùa nóng bốc hơi nhiều hơn mùa lạnh [4]. Lượng mưa trung bình: 1920 mm, lớn nhất: 3024 mm (1994) và nhỏ nhất: 1100 mm (1957). Lượng mưa này phân bổ không đều theo tháng. Số ngày mưa trong năm từ 125 - 135 ngày [4].
Khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều, biên độ thuỷ triều lớn. Tốc độ truyền sóng triều khi triều lên trung bình khoảng 10 km/h và khi thuỷ triều xuống đạt hơn 10 km/h. Kênh Than không bị ảnh hưởng của thủy triều, do kênh Than tiêu ra sông Yên và sông Bạng qua 2 cửa tiêu có nhiệm vụ ngăn mặn và giữ ngọt là cống Bến Ngao và cống Đò Bè [4]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc điểm kinh tế xã hội Khu vực này là Trung tâm Hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Tĩnh Gia (trong giai đoạn toàn huyện Tĩnh Gia chưa hình thành một đô thị). Dân số hiện tại khoảng 69. Trong đó Hải Thanh là xã có mật độ dân số và quy mô dân số tập trung cao nhất, cao hơn cả thị trấn Tĩnh Gia. Huyện Tĩnh Gia có tỷ trọng công nghiệp - xây dựng cao hơn hẳn và tỷ trọng nông, lâm, thủy sản thấp hơn so với toàn tỉnh.
Cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản chiếm 7,5 %; công nghiệp - xây dựng chiếm 82,5 %; dịch vụ chiếm 10 %. Trên địa bàn có 01 trung tâm thương mại và các chợ lớn, như chợ Hải Bình, chợ Thượng Hải - xã Hải Thanh và chợ Thị trấn. Tính đến cuối năm 2014, trên địa bàn đã có 37 khách sạn, nhà nghỉ, đáp ứng được nhu cầu du lịch, giải trí của các du khách thập phương, đặc biệt vào mùa du lịch (từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm) [5]. Sơ lược về chỉ số chất lượng nước WQI Giới thiệu chung về WQI Chỉ số chất lượng nước WQI (Water Quality Index) là một chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nuớc xác định thông qua một công thức toán học.
WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua một thang điểm. Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm: - Phục vụ quá trình ra quyết định phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên; - Phân vùng chất lượng nước; - Thực thi tiêu chuẩn qua việc đánh giá mức độ đáp ứng/không đáp ứng của chất lượng nước đối với tiêu chuẩn hiện hành; - Phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian; - Công bố thông tin cho cộng đồng; - Nghiên cứu khoa học (đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến chất lượng nước khu vực, đánh giá hiệu quả kiểm soát phát thải,…) Quy trình xây dựng WQI Hầu hết các mô hình WQI hiện nay đều được xây dựng theo 4 bước. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bước 1: Lựa chọn thông số Sự lựa chọn các thông số để tính toán WQI phụ thuộc vào mục đích sử dụng nguồn nước và mục tiêu của WQI. Dựa vào mục đích sử dụng WQI có thể được phân loại thành chỉ số chất lượng nước thông thường và chỉ số chất lượng nước cho mục đích sử dụng đặc biệt.
Việc lựa chọn thông số có thể dùng phương pháp Delphi hoặc phân tích nhân tố quan trọng. Các thông số nên được lựa chọn theo 5 chỉ thị: Hàm lượng ôxy hòa tan (DO); phú dưỡng (NH4+, NO3-, tổng N, PO43-, tổng P, BOD5, COD, TOC); các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe (tổng Coliform, Fecal Coliform, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng); đặc tính vật lý (nhiệt độ, pH, màu sắc) và chất rắn lơ lửng (TSS), độ đục [15]. Bước 2: Chuyển đổi thông số về cùng một thang đo (tính toán chỉ số phụ) Các thông số thường có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau. Vì vậy cần phải chuyển các thông số về cùng một thang đo, và tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số.
Chỉ số phụ có thể được tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn [15]. Bước 3: Trọng số của các thông số Các thông số có tầm quan trọng khác nhau đối với chất lượng nước. Trọng số có thể xác định bằng phương pháp Delphi; Phương pháp đánh giá tầm quan trọng dựa vào mục đích sử dụng; Tầm quan trọng của các thông số đối với đời sống thủy sinh; Tính toán trọng số dựa trên các tiêu chuẩn hiện hành; Dựa trên đặc điểm của nguồn thải vào lưu vực và bằng các phương pháp thống kê, …[15] Bước 4 : Tính toán chỉ số WQI cuối cùng Một số bất cập khi tính toán chỉ số WQI cuối cùng là một chỉ số phụ thể hiện WQ xấu nhưng có thể chỉ số cuối cùng lại thể hiện chất lượng tốt (tính che khuất); hoặc khi WQ chấp nhận được nhưng chỉ số WQI lại thể hiện ngược lại (tính mơ hồ); ngoài ra, một thông số có thể bổ sung vào việc đánh giá WQ nhưng lại không được tính vào WQI do phương pháp đã được cố định (tính không mềm dẻo). Các phương pháp thường sử dụng được thống kê trong Bảng 1.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các phương pháp tính chỉ số WQI TT Phương pháp Công thức 1 Trung bình cộng không trọng số 2 Trung bình cộng có trọng số 3 Trung bình nhân không trọng số 4 Trung bình nhân có trọng số 5 Tổng không trọng số dạng Solway 6 Tổng có trọng số dạng Solway Trung bình bình phương điều hòa không 7 trọng số 8 Giá trị nhỏ nhất I = Min(q 1,q2, .qn) 9 Giá trị lớn nhất I = Max(q 1,q2, .qn) Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2010 trong đó: qi - chỉ số phụ; n - số lượng thông số chất lượng nước ; wi - trọng số Kinh nghiệm xây dựng WQI của một số quốc gia trên Thế giới và ở Việt Nam Từ những năm 70 đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu phát triển và áp dụng mô hình WQI cho quốc gia hay địa phương theo một trong 3 hướng: Áp dụng một mô hình WQI có sẵn hoặc cải tiến của nước ngoài vào quốc gia/ địa phương hoặc nghiên cứu phát triển một mô hình mới. Ở Hoa Kỳ, WQI được xây dựng cho mỗi Bang, đa số các Bang tiếp cận theo phương pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation - NSF), sau đây gọi tắt là WQI - NSF. Tại Canada, từ năm 2001 đã xây dựng WQI theo phương pháp của Cơ quan Bảo vệ môi trường Canada (The Canadian Council of Ministers of the Environment - CCME).
Các quốc gia ở châu Âu cũng như 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Malaysia và Ấn Độ chủ yếu áp dụng WQI - NSF (của Hoa Kỳ), tuy nhiên các thông số và phương pháp tính chỉ số phụ được lựa chọn riêng tùy theo mục đích sử dụng. Tại Việt Nam WQI cũng đã được triển khai chính thức. Tôn Thất Lãng và các cộng sự (năm 2008) đã sử dụng phương pháp Delphi để lựa chọn các thông số (BOD, tổng N, DO, SS, pH, Coliform) để tính WQI cho sông Đồng Nai và kết hợp với phương pháp đường cong tỉ lệ để tính toán chỉ số phụ. Trên cơ sở đó đã xác định được các thông số chất lượng nước quan trọng, xây dựng chỉ số phụ và hàm chất lượng nước để đánh giá, phân loại chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai theo chỉ số WQI cuối cùng [15].
Lê Trình và các cộng sự (năm 2008) đã áp dụng theo 2 mô hình WQI cơ bản của Hoa Kỳ (NSF) và Ấn Độ (Bhargava) đã phân vùng được chất lượng nước theo các chỉ số và đánh giá được khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng thành phố Hồ Chí Minh [15]. Từ năm 2011, Tổng cục môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành “Sổ tay hướng dẫn tính toán chỉ số chất lượng nước” để hướng dẫn việc tính toán chỉ số chất lượng nước từ số liệu quan trắc môi trường nước mặt lục địa. Các hệ thống thu gom và các công nghệ xử lý nước thải đô thị 1.