Khóa luận: Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng quế tại Yên Bái

Khóa luận phân tích sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng quế tại Yên Bái. Cung cấp số liệu thực tế và giải pháp phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Nông Lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mô hình trồng quế Yên Bái

Mô hình trồng quế Yên Bái đã trở thành một trong những hướng phát triển nông lâm kết hợp tiềm năng tại vùng núi phía Bắc. Cây quế (Cinnamomum cassia Blume) được trồng rộng rãi tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên với mục đích khai thác vỏ quế để sản xuất các sản phẩm giá trị cao. Sự quan tâm ngày càng tăng của nông dân và các tổ chức nông nghiệp đến trồng quế phản ánh tiềm năng kinh tế của cây loại này. Việc nghiên cứu sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của các mô hình quế rừng trồng là cần thiết để hướng dẫn nông dân sản xuất hiệu quả, bền vững và tăng thu nhập từ hoạt động nông lâm kết hợp.

1.1. Vị trí và tiềm năng phát triển

Xã Đào Thịnh nằm ở vùng núi Yên Bái với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng cây quế. Địa hình dốc, độ cao từ 400-800m so với mặt nước biển tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của cây quế. HTX Quế Hồi Việt Nam đã áp dụng các mô hình trồng quế hiện đại, giúp tăng sinh trưởnghiệu quả kinh tế cho nông dân địa phương.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu

Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế các mô hình quế rừng trồng cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao hiệu suất sản xuất. Các dữ liệu về chiều cao, kính tán, chất lượng rừng giúp nông dân lựa chọn mô hình trồng quế phù hợp nhất, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và phát triển bền vững.

II. Sinh trưởng của cây quế trong mô hình rừng trồng

Sinh trưởng là yếu tố quyết định thành công của mô hình trồng quế. Các chỉ tiêu sinh trưởng chính bao gồm chiều cao, kính tán, đường kính thân được theo dõi định kỳ tại HTX Quế Hồi Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cây quế có tốc độ sinh trưởng khá nhanh trong điều kiện khí hậu và đất đai của vùng Yên Bái. Mô hình quế thuần loài đạt chiều cao trung bình 8-12m sau 8-10 năm trồng, với kính tán phát triển tốt. Các yếu tố như chăm sóc rừng trồng, quản lý cỏ dại, tưới nước đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả sinh trưởng của cây quế tại các mô hình nghiên cứu.

2.1. Chỉ tiêu chiều cao và kính tán

Chiều cao cây (Hvn)kính tán (Dt) là những chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh trưởng của mô hình quế. Theo dõi thường xuyên cho thấy cây quế phát triển ổn định, chiều cao tăng đều hàng năm từ 1,5-2m/năm trong giai đoạn đầu. Kính tán phát triển hài hòa, tạo điều kiện tốt cho chăm sóc rừng trồng và thu hoạch vỏ quế chất lượng cao.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên

Điều kiện khí hậu ôn hòa, độ ẩm cao, lượng mưa phù hợp tại xã Đào Thịnh tạo môi trường lý tưởng cho trồng quế. Đất đai giàu chất hữu cơ, pH thích hợp (5,5-6,5) hỗ trợ sinh trưởng tốt. Hiệu quả sinh trưởng cao nhất đạt được ở những mô hình áp dụng kỹ thuật trồng quế tiên tiến kết hợp quản lý khoa học.

III. Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng quế

Hiệu quả kinh tế là mục tiêu cuối cùng của mô hình trồng quế Yên Bái. Nghiên cứu cho thấy 1 ha rừng trồng quế có thể đem lại thu nhập ổn định khi cây đạt tuổi khai thác (7-10 năm). Giá trị thu nhập từ bán vỏ quế dao động từ 150-250 triệu đồng/ha/năm tùy vào chất lượng vỏ và thị trường. Chi phí sản xuất bao gồm chi phí gieo ươm, trồng rừng, chăm sóc rừng trồng được đầu tư khoa học để tối ưu hóa. Lợi nhuận ròng sau khi trừ chi phí có thể đạt 100-150 triệu đồng/ha/năm, chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao của mô hình quế. So sánh với các mô hình nông nghiệp truyền thống, trồng quế mang lại thu nhập cao hơn đáng kể.

3.1. Thành phần chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất trong mô hình trồng quế bao gồm chi phí cây giống, nhân công, phân bón, thuốc bảo vệ. Kỹ thuật gieo ươm chất lượng cao giảm tỷ lệ cây chết. Chi phí chăm sóc rừng trồng định kỳ đảm bảo sinh trưởng tốt. Tổng chi phí trong 10 năm khoảng 80-120 triệu đồng/ha, được bù đắp nhanh chóng bởi doanh thu cao từ bán vỏ quế.

3.2. Thu nhập và lợi nhuận từ khai thác quế

Thu nhập từ bán vỏ quế là nguồn lợi nhuận chính. Sản lượng vỏ quế ước tính 300-500 kg vỏ tươi/ha/năm sau khi khai thác. Thị trường quế ổn định với giá vỏ quế từ 300-400 nghìn đồng/kg. Hiệu quả kinh tế gia tăng qua năm, tạo thu nhập bền vững cho nông dân và góp phần phát triển kinh tế xã Đào Thịnh.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả bền vững

Phát triển bền vững mô hình trồng quế đòi hỏi áp dụng các giải pháp toàn diện từ sản xuất đến thị trường. Nâng cao chất lượng vỏ quế thông qua kỹ thuật trồng quế cải tiến, chọn giống tốt, và quản lý rừng trồng khoa học. Đầu tư vào chăm sóc rừng trồng định kỳ, áp dụng kỹ thuật thu hoạch đúng cách để tăng sinh trưởnghiệu quả kinh tế. Phát triển thị trường giá cả quế, tìm kiếm các kênh tiêu thụ mới, xây dựng chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến. Tăng cường liên kết sản xuất giữa nông dân, HTX Quế Hồi Việt Nam và các doanh nghiệp chế biến. Đào tạo kỹ năng kỹ thuật trồng quế cho nông dân, chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc rừng trồng thành công.

4.1. Cải thiện kỹ thuật sản xuất

Ứng dụng công nghệ cao trong kỹ thuật gieo ươm quế, sử dụng giống cây quế chất lượng cao từ những vùng có sinh trưởng tốt. Tối ưu hóa quy trình chăm sóc rừng trồng qua việc áp dụng quản lý nước, dinh dưỡng khoa học. Nâng cao hiệu quả sinh trưởng bằng cách giảm tỷ lệ cây chết, tăng tốc độ phát triển thân và tán.

4.2. Phát triển thị trường và xây dựng chuỗi giá trị

Mở rộng thị trường tiêu thụ vỏ quế tới các nước ASEAN, châu Á. Phát triển sản phẩm chế biến từ quế (dầu quế, mỹ phẩm, dược phẩm) tăng giá trị. Kết nối liên kết giữa nông dân và các doanh nghiệp để ổn định giá cả, đảm bảo hiệu quả kinh tế lâu dài cho mô hình trồng quế.

22/12/2025
Khóa luận đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng cinamumun cassia blume tại xã đào thịnh huyện trấn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong các loài cây lâm nghiệp thì cây Quế (Cinnamomum cassia Blume) được biết đến như một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới. Quế không chỉ có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà sản phẩm của Quế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, thực phẩm, y dược, sản xuất công nghiệp và cung cấp gỗ củi. Tinh dầu quế là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao hiện nay đang được ưa chuộng. Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá quế thì chưng cất được 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 650.

Do bán được giá và thị trường tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu quế ở Yên Bái đang tận thu lá quế và đua nhau nâng giá thu mua. Nếu trước đây các hộ chỉ bán lá quế ở những cây khai thác với giá 500-800 đ/kg, đến nay do giá thu mua khá hấp dẫn 1.500 đ/kg nên các hộ khai thác lá quế cả ở những cây đang phát triển. Yên Bái là tỉnh có diện tích quế lớn nhất khu vực miền Bắc Việt Nam, tập trung tại các huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Yên Bình và Lục Yên. Hiện nay, cây quế đang trở thành một trong những cây trồng chủ lực, đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân Yên Bái.

Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 tỉnh trồng mới 19.500 ha quế, diện tích cây quế toàn tỉnh 76.000 ha với sản lượng vỏ đạt 20.000 tấn và 600 tấn tinh dầu. Năm 2017, giá bán quế ổn định ở mức cao, vỏ quế khô bán với giá trung bình từ 30-40 nghìn đồng/kg, lá quế 2-3 nghìn đồng/kg, thân quế từ 15 cm trở lên bán với giá 1,5-1,8 triệu đồng/m3, tinh dầu quế từ 500-600 nghìn đồng/kg. 2 Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái, toàn tỉnh có trên 60.000 ha quế, mỗi năm thu về hơn 800 tỷ đồng, tập trung nhiều nhất tại huyện Văn Yên với diện tích trên 40. Ngày 22/7/2018, UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số 1481/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển cây Quế tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025, với mục tiêu: Hình thành vùng trồng Quế tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước; Định hướng đến năm 2025, tỉnh Yên Bái có 78.000 ha Quế, sản lượng vỏ Quế khô trên 20.000 tấn/năm, giá trị đạt 500 tỷ đồng/năm, tinh dầu Quế đạt 600 tấn/năm, giá trị đạt trên 400 tỷ đồng/năm.

Bình quân mỗi năm toàn huyện trồng mới, trồng thay thế trên 2.500 ha rừng các loại với cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng, quế, tre Bát Độ. [11] Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều mô hình liên kết sản xuất, giữa các doanh nghiệp, HTX với nông dân trồng Quế. Trong đó, tiêu biểu là HTX Quế Hồi Việt Nam, địa chỉ tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên; HTX có 22 xã viên, tổng diện tích 500 ha quế. Các hộ xã viên được HTX bao tiêu đầu ra với giá cao hơn thị trường.

Quế được thu mua, phân loại, sơ chế thành 12 loại sản phẩm và xuất khẩu đi Ấn Độ và các nước vùng Trung Đông. Trước đây, quế tươi chỉ bán với giá 15.000 đồng/kg, hiện nay giá quế bình quân đã lên 18. HTX Quế hồi Việt Nam đang xây dựng mới 01 nhà máy chế biến sản phẩm quế hữu cơ trên địa bàn xã có tổng diện tích là 14.312 m2, công suất từ 80 - 100 tấn quế tươi/tháng, vốn đầu tư 80 tỷ đồng với dây chuyền máy móc hiện đại, dự kiến tháng 10 năm 2018 sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động. Đặc biệt, HTX sẽ xây dựng quy trình vùng sản xuất quế hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu sang các thị trường cao cấp với 3 giá trị kinh tế cao; Đồng thời cung cấp cây quế giống đảm bảo chất lượng và các dịch vụ cho thành viên, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho người dân.

Tuy nhiên, việc đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế và hiệu quả kinh tế mô hình Quế rừng trồng ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái chưa được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế và nhu cầu của HTX Quế Hồi Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình quế rừng trồng (Cinamumun cassia Blume) tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Quế tại xã Đào Thịnh. - Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình Quế rừng trồng tại khu vực nghiên cứu.

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững mô hình Quế rừng trồng tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần cơ sở khoa học và lý luận về đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế. - Thông qua đánh giá sinh trưởng và hiểu quả kinh tế mô hình trồng Quế nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các mô hình trồng Quế ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu quan trọng đánh giá đúng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế mô hình trồng Quế cho HTX Quế hồi Việt Nam. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho cán bộ, nhân dân có mô hình trồng Quế tại xã Đào Thịnh. 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.

Cơ sở khoa học về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng trồng Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng xuất của rừng. Những nơi trồng rừng khác nhau thì cấp đất của nó lại khác nhau do đó khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng ở đó cũng khác nhau. Vì vậy, chúng ta phải nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây và cấp đất để rừng trồng không những luôn luôn sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao mà còn có chất lượng tốt thì chúng ta phải nghiên cứu điều kiện lập địa trước khi trồng. Đất là nhân tố quyết định sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng và tính ổn định của rừng.

Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên cấu tạo nên đất có ảnh hưởng trực tiếp đặc điểm lý học và hoá học của đất thông qua đó nó ảnh hưởng tới phân bố, sinh trưởng phát triển của cây rừng và sản lượng rừng. Tất cả các yếu tố khí hậu như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió… đều có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành đất. Nó có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua thảm thực bì. Nước và nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất thông qua phá huỷ đá, hoà tan vật chất, xói mòn 5 rửa trôi, tổng hợp và phân giải chất hữu cơ trong đất.

Khi lượng mưa ở các khu vực khác nhau làm cho hàm lượng sét, dung tích hấp thu và pH trong đất thay đổi. Khi lượng mưa tăng làm cho pH trong đất giảm điều nay giải thích tại sao đa số đất ở Việt Nam đa số lại chua vì lượng mưa lớn từ 1500 - 2000 mm/năm. Khi lượng mưa tăng làm cho quá trình khoáng hoá dẫn đến hàm lượng sét tăng lên kéo theo dung tích hấp thu lại tăng. Ngược lại khi mưa nhiều đã rửa trôi các cation kiềm và kiềm thổ dẫn đến hàm lượng mùn và độ chua tăng [6,7].

Chế độ nước, nhiệt độ trong đất và độ sâu tầng đất là nhóm nhân tố ảnh hưởng quyết định đến phân bố hình thái và sự phát triển của hệ rễ thông qua đó ảnh hưởng đến tính ổn định của quần thể rừng. Đá mẹ dưới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh tạo thành mẫu chất. Sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ mẫu chất do đá vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi lại tạo ra một lượng chất hữu cơ. Cứ như vậy sinh vật ngày càng nhiều và lượng chất hữu cơ tạo ra ngày càng nhiều hơn nên mẫu chất chuyển thành đất ngày càng tăng.

Ngoài ra, vi sinh vật làm nhiệm vụ tổng hợp và phân giải chất hữu cơ và cố định đạm từ khí trời. Trong quá trình phân giải vi sinh vật một mặt chuyển hoá các chất hữu cơ thành các chất khoáng đơn giản để nuôi sống cơ thể chúng, mặt khác nó lại tổng hợp nên một dạng chất hữu cơ đặc biệt trong đất. Đó là hợp chất mùn - thành phần cơ bản trong đất. Ngoài ra, động vật chúng chuyển hoá vật chất qua hoạt động sống, các vật chất khi qua cơ thể động vật trong đất đã chuyển hoá thành các chất dễ tiêu cho cây và có tác dụng xới xáo làm cho đất tơi xốp [7].

Nhìn chung độ phì của đất có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống của cây rừng, đá mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm lý hoá học của đất thông qua đó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây rừng và của rừng. Ngược lại, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất các đặc tính lý hoá học của đất và vi sinh vật đất. Thực vật màu xanh có tác dụng 6 đến quá trình phong hoá đá tăng cường tích luỹ chất hữu cơ trong đất. Với chức năng tự quang hợp, thực vật màu xanh đã tạo nên một lượng sinh khối lớn và khi chết đi đã trả lại cho đất toàn bộ lượng vật chất khô đó.

Thông thường 1ha cây xanh có thể trả lại cho đất bằng cành khô lá rụng cả nó khoảng20 - 25 tấn/năm. Chất hữu cơ từ xác thực vật đã làm tăng hàm lượng mùn trong đất, làm cho đất có kết cấu tốt hơn, chế độ nhiệt, nước thuận lợi hơn. Điều kiện khí hậu thuận lợi và thành phần vi sinh vật trong đất phong phú lại đóng góp tích cực vào quá trình phân giải thảm mục để biến thành mùn. Cây bụi thảm tươi là thành phần quan trọng trong quần xã rừng.

Mối quan hệ giữa cây bụi thảm tươi và cây rừng vừa có lợi vừa có hại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ