Mở đầu Nội dung Chƣơng I. Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất. Chƣơng II. Thực trạng tình hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong nuôi thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mƣời tỉnh Long An từ năm 2000 - đến nay.
Chƣơng III. Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất trong nuôi thủy sản. Kết luận và khuyến nghị 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỒ LIÊN KẾT SẢN XUẤT 1.
Những khái niệm cơ bản : 1. Các khái niệm , thuật ngữ chung : Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con ngƣời muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phƣơng pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trƣờng.
Khái niệm tổ chức : + „„ Theo ngôn ngữ thông thường, tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được. + Theo ngôn ngữ khoa học thì tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau : 1. Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng ; 2. Có cấu trúc phân công lao động nghĩa là mọi người tham gia tổ chức không phải đều được nhận việc như nhau mà được giao những việc phù hợp với yêu cầu của tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân.
Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để ; 3. Có một ban quản lý. Ban quản lý có bổn phận đại diện cho công đồng với công việc điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức ‟‟.[4 ;1] Khái niệm liên kết hay hoà nhập nói lên sự kết hợp thích ứng với nhau giữa các yếu tố cấu thành một hệ thống, cho phép các yếu tố đó tạo thành một chỉnh thể cân đối. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm tổ hợp tác Theo định nghĩa của FAO (1993) thì “nhóm sở thích (có nơi gọi là tổ hợp tác) trong nông nghiệp nông thôn” là tập hợp những ngƣời dân, hộ gia đình, hoặc bộ tộc sống chung trong cộng đồng địa phƣơng, có kiến thức, tâm huyết – say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đẩy các hoạt động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì hợp tác với nhau để tìm phƣơng pháp mƣu sinh bền vững bằng cách lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn để, trƣớc mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển bền vững trên quê hƣơng mình. Tổ hợp tác là hình thức tổ chức của xã hội dân sự, ngƣời dân thành lập tổ giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời sống theo hƣớng thoả thuận dân sự, là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chƣơng trình dự án cộng đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cƣ, làng bản văn hoá,… Tổ hợp tác hoạt động theo Điều 111 đến 120 của Bộ Luật Dân sự năm 2005: “Tổ hợp tác đƣợc hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hƣởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự” Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tƣ 04/2008/TT-BKH hƣớng dẫn tổ chức, hoạt động của tổ hợp tác với những đặc điểm cơ bản: Tổ hợp tác do các cá nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tổ chức xã hội dân sự số lƣợng thành viên tối thiểu là 3 ngƣời, UBND cấp xã chứng thực hợp đồng hợp tác; tổ hợp tác không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh tế, xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật. Tổ hợp tác không phải là pháp nhân kinh doanh, “không là cấp dưới” của UBND xã, hay tổ trƣởng dân phố, trƣởng thôn, của Ban quản lý chƣơng trình dự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án do vậy mối quan hệ là hợp tác,hýớng dẫn ðúng ngýời ðúng việc; một số công việc nhiều tổ làm đƣợc có thể luân phiên giữa các tổ hoặc bỏ thầu chọn tổ làm tốt nhất. Các tổ hợp tác hoạt động với tinh thần tự nguyện, mỗi thành viên có trách nhiệm theo hợp đồng, theo thoả thuận cùng có lợi, do vậy các tranh chấp cần đƣợc ngăn chặn và xử lý kịp thời để giữ tình đoàn kết.
Hoạt động của tổ hợp tác ngoài các mục tiêu về kinh tế đối với tổ hợp tác làm kinh tế, các loại hình tổ hợp tác đều lấy tôn chỉ mục tiêu phát triển cộng đồng, hoạt động xã hội tƣơng trợ, giúp đỡ đời sống tinh thần đến từng cá nhân và gia đình với ý nghĩa nhân văn. Khái niệm về Hợp tác xã Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Hợp tác xã hoạt động nhƣ một loại hình doanh nghiệp, có tƣ cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. HTX là phƣơng thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc và qui định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con ngƣời và phải thích ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó.
HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt hiệu quả kinh tế cao. HTX là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh tế. Mục tiêu của HTX là phát triển đƣợc sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều kiện mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm, có thể là ngƣời Việt Nam đầu tiên, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã và truyền bá vào nƣớc ta, trong tác phẩm "Đƣờng kách mệnh" viết vào năm 1927.
"Hợp tác xã" trong "Đƣờng kách mệnh" là tác phẩm lý luận điển hình, mẫu mực về HTX, là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phƣơng Đông nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng và phƣơng Tây, từ đó tạo ra Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về HTX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút lý luận và kinh nghiệm hợp tác xã của thế giới, điển hình là Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật. Quan niệm của Hồ Chí Minh về HTX lúc đó rất đúng với nhận thức của quốc tế, trƣớc hết là Liên minh HTX quốc tế, Tổ chức Lao động thế giới và các nƣớc hiện nay về HTX, về bản chất, giá trị và nguyên tắc, cách thức tổ chức HTX. Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày các quan niệm về HTX một cách hệ thống, với ngôn ngữ dung dị, dễ hiểu, và đặc biệt rất ngắn gọn, ai đọc cũng có thể hiểu đƣợc.
Giải thích về bản chất hợp tác xã, Ngƣời viết: Hạt nhân, trung tâm của HTX là xã viên; xã viên hợp tác với nhau để có lợi ích thiết thực và vẫn duy trì tính độc lập của mình; xã viên là chủ đích thực của hợp tác xã, là mục tiêu mà HTX phải phục vụ; HTX là phƣơng tiện để phục vụ xã viên, phải đảm bảo đem lại lợi ích cho xã viên- thực là "hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ". Để trả lời câu hỏi "tại sao ngƣời ta cần phải tham gia hợp tác xã", Bác Hồ đã đƣa ra một ví dụ cụ thể chứng minh, theo đó: ngƣời sản xuất, nhất là nông dân đƣợc chia sẻ lợi ích phát sinh cả trong quá trình trao đổi, tiêu thụ sản phẩm, tạo tiết kiệm cho xã hội thông qua giảm chi phí trung gian, tạo lợi ích cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng thông qua giá rẻ. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã bƣớc đầu đề ra mô hình HTX tiêu dùng theo chuẩn mực quốc tế (Xã viên vừa là đồng sở hữu vừa đồng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX). Cụ thể: ở nông thôn, trên cơ sở tăng cƣờng vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của hộ xã viên, các HTX hƣớng hoạt động vào những khâu và lĩnh vực mà hộ xã· viên không có điều kiện tự làm hoặc làm kém hiệu quả hơn kinh doanh tập thể.
Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và HTX cung cấp dịch vụ, vật tƣ và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại". Tuy nhiên, chủ trƣơng này chƣa đƣợc thể chế hoá trong Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Hợp tác xã năm 2003. Ngày nay, ở một số nƣớc nhƣ: Đan Mạch, Hà Lan, Na uy- là những nƣớc có khu vực HTX mạnh và có phong trào HTX từ lâu và khá sớm trên thế giới, nhƣng vẫn chƣa có Luật về hợp tác xã. Ngay ở nƣớc ta, mặc dù khung pháp luật chƣa đầy đủ, tổ hợp tác mà bản chất là HTX, trong những năm gần đây, vẫn phát triển rất mạnh mẽ.