Mở đầu cho những nghiên cứu này là chương trình nghiên cứu biển (KT-03) trong đó có đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển” (KT-03-12) do Lê Đức An chủ trì. Sau 5 năm thực hiện, các đặc điểm cơ bản về địa lý tự nhiên cũng như kiểm kê số lượng các đảo ven bờ Việt Nam đã được nêu ra. Các kết quả này đã lần lượt được các tác giả tham gia nghiên cứu công bố trong các hội nghị khoa học hoặc trong các tạp chí khoa học chuyên ngành khác nhau. Tiêu biểu là công trình phân tích lịch sử phát triển của các đảo ven bờ Việt Nam trong giai đoạn Pleistocen muộn - Holocen trên cơ sở tuổi tuyệt đối được xác định bằng phương pháp phóng xạ C14, trong đó có quần đảo Cô Tô của A.
Korotky và đồng nghiệp. Cũng trong thời gian này, nghiên cứu đáy biển đã được tiến hành trong khuôn khổ đề tài “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông (0-30 mét nước) ven bờ Việt Nam tỷ lệ 1:500.000” do Nguyễn Biểu chủ trì. Dựa theo nguyên tắc hình thái-động lực, các kiểu địa hình đáy biển ven bờ (0-30 mét nước) khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh đã được phân chia và biểu diễn trên bản đồ tỷ lệ 1: 500. Một số kết quả cơ bản về hệ thống đảo và đáy biển ven đảo vịnh Bắc Bộ đã được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Ngoài ra, trên cơ sở khảo sát thực địa khá chi tiết và phân tích thêm các tài liệu hiện có, những người thực hiện đề tài đã có những đánh giá nhất định về tiềm năng khoáng sản rắn ở dải ven biển, trong đó có các đảo và đáy biển nông ven bờ Quảng Ninh cũng như một số nhận xét về lịch sử phát triển, đặc biệt là trong Kainozoi của biển nông ven bờ vịnh Bắc Bộ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ XÁC LẬP MỘT SỐ MÔ HÌNH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP CỘNG ĐỒNG 1. Biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (1992), biến đổi khí hậu được định nghĩa là “ những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. Biến đổi khí hậu hiện nay không còn là vấn đề của một quốc gia riêng lẻ là đã trở thành một vấn đề chung có tính chất toàn cầu.
Biến đổi khí hậu tác động đến thực tế cuộc sống trên tất cả các phương diện quan trọng là nước, lương thực, năng lượng, môi trường sống, sức khỏe con người. Trái Đất tiếp tục nóng lên, băng tan làm mực nước biển dâng cao có thể khiến hàng trăm triệu người lâm vào nạn đói, thiếu nước sạch, mất đất, lụt lội và bệnh tật. Do đó, thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng trở lên cấp bách và quan trọng. Thuật ngữ “thích ứng” (adaptation) được hiểu là "sự điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người nhằm ứng phó với những biến đổi thực tế hoặc dự kiến của khí hậu hoặc các ảnh hưởng của chúng, để giảm bớt tác hại hoặc khai thác những cơ hội mang lại lợi ích" (IPCC, 2007).
Như vậy, thích ứng là cả một quá trình điều chỉnh được con người hoạch định, đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều thành phần và được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau theo từng bước trong một quá trình thống nhất, được thực hiện lâu dài. Thích ứng cần được thực hiện sao cho hiệu quả nhất và phù hợp nhất, không gây xáo trộn lớn đến cuộc sống của người dân cũng như không ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế - xã hội của khu vực. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thích ứng biến đổi khí hậu phản ánh tất cả những phản ứng đối với biến đổi khí hậu nhằm làm giảm những tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra. Thích ứng biến đổi khí hậu không phải là chấp nhận và chung sống với biến đổi khí hậu mà đòi hỏi về sự nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành vi, nghiên cứu tìm tòi ra các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh và giảm nhẹ những hậu quả bất lợi của biến đổi khí hậu ra.
Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình, qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu về sức khỏe và đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại (Brurton,1992). Phạm vi của các hành động thích ứng rất rộng. Thích ứng không được hiểu theo một nghĩa hẹp và có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ, thích ứng có thể gồm các hành động bảo vệ sinh kế và đời sống, duy trì sức khỏe cộng đồng, duy trì nền kinh tế và các nguồn lực, ngăn chặn suy thoái môi trường.
Những hành động thích ứng này có thể được thực hiện theo biện pháp công nghệ, biện pháp về hành vi, biện pháp về quản lý hoặc biện pháp về chính sách. Thích ứng có thể thực hiện ở bất kỳ quy mô nào, theo các chương trình và chiến lược của các tổ chức quốc tế đối với các hành động được thực hiện bởi các cá nhân và các hộ gia đình. Các cuộc thảo luận quốc tế thường tập trung vào việc thúc đẩy thích ứng dự phòng - "thích ứng thực hiện trước khi xảy ra tác động của biến đổi khí hậu" - hay là thích ứng chủ động (IPCC, 2007). Điều này nhấn mạnh sự cần thiết để thực hiện các bước điều chỉnh trước khi có thể xảy ra các tác động của biến đổi khí hậu để cộng đồng và xã hội chủ động chuẩn bị đối với những thay đổi và làm giảm tác động và gánh nặng chi phí trong tương lai.
Tuy nhiên, sự phân biệt này có thể không rõ ràng trong thực tế và theo thời gian - bởi các hành động thường theo một số dạng của sự kiện xảy ra: người ta có thể ứng phó bị động đối với sự thay đổi bằng cách dự kiến thay đổi lớn hơn trong tương lai. IPCC cũng phân biệt giữa thích ứng tự điều chỉnh và thích ứng có kế hoạch. Thích ứng tự điều chỉnh không chỉ là hoạt động có ý thức hoặc có hiểu biết nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu mà đơn giản là ứng phó với những thay đổi đã xảy ra, thông thường "được bắt đầu bởi những thay đổi sinh thái trong các hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống tự nhiên và bằng sự thay đổi thị trường hoặc phúc lợi trong hệ thống xã hội loài người" (IPCC, 2007). Dạng thích ứng này cũng có thể được gọi là thích ứng tự phát.
Thích ứng tự điều chỉnh là loại thích ứng phổ biến nhất được thực hiện độc lập bởi các cộng đồng địa phương ở Việt Nam và các khu vực khác. Thích ứng tự điều chỉnh trái ngược với thích ứng có kế hoạch. Thích ứng có kế hoạch là "kết quả của một quyết định chính sách thận trọng dựa trên nhận thức rằng các điều kiện đã thay đổi hoặc sắp thay đổi và hành động đó là cần thiết để quay lại, duy trì, hoặc để đạt được một trạng thái mong muốn" (IPCC, 2007). Thích ứng có kế hoạch là những gì mà Chính phủ Việt Nam hướng tới đầu tiên để thực hiện trên phạm vi toàn quốc.
Thích ứng loại này nên bao gồm các hoạt động nhờ đó các tổ chức hướng tới định dạng thích ứng và giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trong tương lai, bằng cách đánh giá sự phân bố của các tác động khí hậu, khả năng của các cá nhân để ứng phó với biến đổi khí hậu, các phương án thích ứng và các cách thức để những người tiên phong cung cấp và truy cập vào nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy việc thích ứng (Adger, 2000). Sự khác biệt giữa hai hình thức thích ứng trên là không rõ ràng. Không chỉ chính phủ có thể thực hiện thích ứng có kế hoạch, mà cả cộng đồng cũng thực hiện được, nếu họ được tiếp cận với thông tin về rủi ro khí hậu. Các hành động thích ứng được Chính phủ thực hiện mang lại lợi ích lớn hơn có thể là ví dụ cho thích ứng tự điều chỉnh.
Các hoạt động thích ứng tại Việt Nam do đó có thể là các dự án, chính sách và văn bản pháp luật cụ thể để giải quyết các rủi ro của biến đổi khí hậu, như trồng rừng ngập mặn để bảo vệ bờ biển, cũng như các hoạt động truyền bá nhiều hơn nữa để nâng cao các quy chuẩn xây dựng và thực thi các quy chuẩn đó, đa dạng hóa sinh kế bản địa nhằm giảm sự phụ thuộc vào những dạng tài nguyên có nguy cơ rủi ro, hoặc thiết lập các đề án để hỗ trợ các hộ gia đình dễ bị tổn thương trong thời gian khủng hoảng (Adger và cộng sự, 2002). Một số hành động có thể được cho là thích ứng, một số khác lại được mô tả là không thích ứng, nếu các hành động này có thể làm tăng nguy cơ rủi ro khiến con người phải đối mặt trong tương lai. Giải quyết vấn đề về BĐKH phải có tư duy về lâu dài, chẳng hạn như quản lý rừng bền vững, thay vì chỉ tập trung vào những lợi ích ngắn hạn, như khai thác gỗ tối đa. Nó cũng có nghĩa là xem xét các hành động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác nhau sẽ ảnh hưởng đến những người khác nhau như thế nào, bởi vì những gì được coi là thích ứng đối với một cá nhân hoặc nhóm người lại có thể làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương cho người khác, nhóm người khác.
Tất cả điều này đòi hỏi không chỉ là xây dựng các giải pháp dựa trên mục tiêu hạn hẹp, mà cần được tích hợp với các chiến lược phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo (Viner và Bouwer, 2006; Schipper và Pelling, 2006).