phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: – Chƣơng 1. Lý luận chung về sàn giao dịch công nghệ và vai trò của sàn giao dịch công nghệ trong hoạt động chuyển giao công nghệ. Đánh giá hiện trạng hoạt động chuyển giao công nghệ tại TP. Đề xuất mô hình liên kết của sàn giao dịch công nghệ để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦA SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1. Các khái niệm liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ – Công nghệ là gì? Tùy theo cách tiếp cận, có một số định nghĩa khác nhau về công nghệ: + Định nghĩa 1: Theo tác giả F. Root: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đƣợc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”.
+ Định nghĩa 2: Theo tác giả R. Jones (1970): “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực chuyển thành hàng hóa”. + Định nghĩa 3: Theo tác giả J. Baranson (1976): “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”.
+ Định nghĩa 4: Theo tổ chức PRODEC (1982): “Công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến dịch vụ”. + Định nghĩa 5: Theo tác giả Sharif (1986) cho rằng “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ƣu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trƣờng vật chất, xã hội và văn hóa. Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn chỉnh,…). Dạng con ngƣời (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm).
Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phƣơng pháp, dữ kiện thích hợp,. đƣợc mô tả trong các ấn phẩm tài liệu v. Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phƣơng tiện truyền bá, công ty tƣ vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp, …). + Định nghĩa 6: Theo Luật KH&CN Việt Nam (2000): “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
+ Định nghĩa 7: Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006): “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Trong số các định nghĩa trên, định nghĩa công nghệ của Sharif với 4 thành phần: vật thể, con ngƣời, ghi chép, thiết chế tổ chức là bao quát và đầy đủ nhất vì thực tế cho thấy ngoài phần mềm (kiến thức) đƣợc thể hiện qua dạng con ngƣời, dạng thông tin, cần có phần cứng nhƣ công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc thì mới có thể biến nguồn lực thành sản phẩm. – Chuyển giao công nghệ + Định nghĩa 1: Theo UNCTAD (1982): “Chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ”. + Định nghĩa 2: Theo tác giả Dunning (1982): “Chuyển giao công nghệ liên quan đến phƣơng thức một nƣớc tiếp nhận công nghệ (thu nhận) hoặc khả năng công nghệ từ nƣớc khác.
Nó cũng bao gồm bất kỳ hình thức chuyển giao công nghệ nào giữa các hình thái tổ chức hoặc trong nội bộ một tổ chức”. + Định nghĩa 3: Theo tác giả Nawaz Sharif (1983), “Chuyển giao công 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ thƣờng là cách gọi việc mua công nghệ mới. Nó thƣờng xảy ra do có sự tồn tại của “ngƣời mua” và “ngƣời bán”. Ngƣời bán thƣờng đƣợc gọi là “ngƣời giao” và ngƣời mua thƣờng đƣợc gọi là “ngƣời nhận” của quá trình công nghệ.
+ Định nghĩa 4: Theo một Hội nghị của NATO (1975): “ Chuyển giao công nghệ là quá trình truyền thông tin giữa khoa học, kỹ thuật và việc sử dụng các dữ kiện, ý đồ khoa học vào sản xuất và dịch vụ; chuyển các kết quả nghiên cứu sang khu vực áp dụng; quá trình cho thông tin xuất hiện ở một môi trƣờng này thích ứng đƣợc với việc sử dụng trong một môi trƣờng khác”. + Định nghĩa 5: Theo Luật Chuyển giao Công nghệ Việt Nam (2006): “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”. Ngày nay, bản chất của chuyển giao công nghệ cần đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn không đơn giản chỉ là mua đứt, bán đoạn nhƣ đối với các hàng hóa khác mà chuyển giao công nghệ phải đƣợc hiểu là quá trình vật chất, là quá trình sản sinh, truyền và sử dụng thông tin. Việc mua bán chỉ là một phần của chuyển giao tuy rất quan trọng.
Hoạt động chuyển giao công nghệ liên quan rất chặt chẽ với quyền sở hữu trí tuệ bởi vì giá trị của công nghệ là giá trị vô hình. – Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ. – Định giá công nghệ: Theo Luật Chuyển giao Công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ. – Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trƣờng của công nghệ.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com – Môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ (Luật Chuyển giao Công nghệ). – Tƣ vấn chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ (Luật Chuyển giao Công nghệ). – Xúc tiến chuyển giao công nghệ là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội chuyển giao công nghệ; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ (Luật Chuyển giao Công nghệ). Các mô hình chuyển giao công nghệ Theo tài liệu “A review on the technology transfer models, knowledge - based and organizational learning models on technology transfer” của các tác giả Sazali Abdul Wahab, Radual Che Rose , Jegak Uli, Haslinda Abdullah,… đăng trên tạp chí European Journal of social sciences - volume 10, number 4 (2009), tổng quan các mô hình chuyển giao công nghệ qua các giai đoạn phát triển của khoa học kỹ thuật nhƣ sau: 1.
Mô hình tự thích ứng Mô hình này đƣợc triển khai vào các năm 1945-1950 cho rằng các công nghệ tốt hay có chất lƣợng tự nó có thể bán đƣợc. Mô hình nhấn mạnh tính quan trọng của các nghiên cứu có chất lƣợng và áp lực cạnh tranh của thị trƣờng để đạt đƣợc chuyển giao công nghệ và thúc đẩy việc áp dụng các kết quả nghiên cứu. Theo mô hình này, chuyển giao công nghệ diễn ra một cách đơn giản khi công nghệ tìm ra ngƣời sử dụng hoặc đƣợc phát hiện bởi thị trƣờng. Mô hình giả định rằng sau khi các nhà nghiên cứu phát triển công 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ và làm cho công nghệ trở nên sẵn có dƣới nhiều hình thức thông tin ví dụ nhƣ các báo cáo kỹ thuật hay tạp chí chuyên ngành thì ngƣời dùng sẽ tự khắc tìm đến.
Mô hình tự thích ứng đƣợc mô tả nhƣ cấp độ cơ bản nhất của mô hình chuyển giao công nghệ. Giả định cơ bản nhất của phƣơng pháp tiếp cận tự thích ứng là xem chuyển giao công nghệ nhƣ là kết quả của một quá trình tự động đƣợc bắt đầu bằng nghiên cứu khoa học sau đó chuyển dịch tới việc triển khai, tài chính, sản xuất và tiếp thị. Chuyển giao công nghệ không cần thiết có các mối liên kết trong quá trình thƣơng mại hóa công nghệ. Tuy nhiên, các nghiên cứu trƣớc đây đã thừa nhận một chứng cứ trong nhiều năm rằng không phải công nghệ tốt thì đƣợc bán với kết quả tốt.
Mô hình phổ biến Mô hình đƣợc đƣa ra bởi Rogers (1983) và Rogers and Kincaid (1982) đƣợc triển khai vào những năm 1960 - 1970. Tiếp cận nêu ra tính quan trọng của công nghệ và đổi mới sáng tạo đƣợc khuếch tán, phổ biến đến ngƣời dùng tiềm năng bởi các chuyên gia. Giả định quan trọng của mô hình này là một khi các mối liên hệ đã đƣợc thiết lập thì công nghệ mới sẽ đƣợc di chuyển từ chuyên gia sang đối tƣợng không phải là chuyên gia nhƣ là “nƣớc chảy trong ống khi đƣờng dẫn đƣợc khai thông”. Mô hình này nhƣ cấp độ 2 của mô hình chuyển giao công nghệ: cấp độ tiếp nhận công nghệ.
Mô hình này cho rằng trách nhiệm đầu tiên của chuyên gia là để lựa chọn công nghệ và đảm bảo tính khả thi của công nghệ để ngƣời tiếp nhận công nghệ có thể hiểu và sử dụng công nghệ. Tuy nhiên, mô hình này chịu sự hạn chế là tính chất thông tin một chiều, không có sự tham gia của ngƣời sử dụng trong quá trình chuyển giao công nghệ. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô hình tri thức Mô hình này đƣợc triển khai vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20 có ảnh hƣởng vô cùng quan trọng đối với văn hóa chuyển giao công nghệ.
Phƣơng pháp tiếp cận bởi mô hình này là tập trung vào các điểm sau đây: 1/ Vai trò quan trọng của giao tiếp cá nhân giữa các nhà nghiên cứu/phát triển công nghệ với ngƣời sử dụng công nghệ. Mô hình này nhấn mạnh việc tổ chức tri thức để sử dụng công nghệ hiệu quả. Đây đƣợc xem nhƣ cấp độ 3 của mô hình chuyển giao công nghệ: ứng dụng công nghệ. Giai đoạn này là giai đoạn đặc trƣng nhất của chuyển giao công nghệ bao gồm việc sử dụng lợi nhuận công nghệ trên thị trƣờng cũng nhƣ các hình thức ứng dụng khác trong nội bộ công ty.
Giả thuyết quan trọng của mô hình này là công nghệ chuyển dịch từ ngƣời này sang ngƣời khác (hand-to-hand) theo một hƣớng đơn phƣơng từ chuyên gia sang ngƣời sử dụng. Các mô hình tự thích ứng, phổ biến và tri thức sẽ phải chịu sự thiên vị tuyến tính vốn có, ở đó các mô hình chuyển giao công nghệ có các hạn chế khi chuyển giao công nghệ qua ranh giới các tổ chức.