CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 GIỚI THIỆU Sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hành khách và phương tiện ở các bãi đỗ xe tại các khu vực mật động giao thông cao như sân bay, khu du lịch, trung tâm thương mại vào các ngày thường cũng như các ngày lễ, Tết, không chỉ là một minh chứng cho sự phát triển vượt bậc trong nền kinh tế mà còn đặt ra những thách thức đáng kể về quản lý giao thông nội đô và việc tiếp cận các bãi đỗ xe. Tình trạng tắc nghẽn xe ra vào trong bãi đỗ xe đã trở thành những vấn đề cấp bách, tác động không chỉ đến hiệu suất hoạt động của các khu vực này mà còn đến trải nghiệm của hàng triệu người dân mỗi năm.1 Hình ảnh tắc nghẽn giao thông tại các khu vực trọng điểm TP. Trước sự tăng trưởng nhanh chóng của hành khách và phương tiện, tình trạng bãi đỗ xe hết chỗ đỗ vào giờ cao điểm nhưng người đỗ xe vẫn tới bãi có thể gây ùn tắc giao thông trên các tuyến đường dẫn vào khu vực trọng điểm như lối bãi đỗ xe tại sân bay, trung tâm thương mại,… đã trở thành một vấn đề cấp bách. Việc chật kín và cản trở di chuyển tạo ra những khoảnh khắc không hiệu quả và phiền toái, gây ra sự tắc nghẽn không chỉ đối với hành khách mà còn đối với các dịch vụ và nhân viên tại nơi đó.
Quá trình vào và ra khỏi bãi đỗ xe trở thành một điểm trừ lớn trong quản lý giao thông tại các khu vực trọng điểm. Sự chồng chéo và hỗn loạn trong quy trình này không 1 chỉ làm tăng nguy cơ tai nạn mà còn làm giảm hiệu suất toàn bộ mật độ giao thông nơi những nơi này.2 Hình ảnh lối ra/vào bãi xe sân bay Tân Sơn Nhất [2]. Sự chậm trễ trong việc đỗ và lấy xe không chỉ làm giảm trải nghiệm của hành khách mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch di chuyển và quản lý lưu lượng. Đặc biệt đối với các bãi xe sân bay, tình trạng hàng ngàn chiếc xe máy bị “bỏ quên” đã lâu không ai đến lấy, không rõ đã tồn động từ khi nơi này bắt đầu đưa vào hoạt động.
Điều này làm tốn đi lượng lớn diện tích bãi đỗ xe, tốn chi phí nhà xe khi phải vệ sinh, sửa chữa và phải tốn nhân công để đảm bảo những chiếc xe này ổn định trong công tác phòng chống cháy nổ.3 Khu vực để xe máy gửi quá hạn ở nhà giữ xe sân bay Tân Sơn Nhất [2]. Tại nhà xe sân bay Tân Sơn Nhất hiện cũng có khoảng 700 xe máy gửi quá hạn ở nhà xe này. Ông Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng phòng Vận hành, Công ty TCP (đơn vị 2 đầu tư và khai thác nhà xe) cho biết đã nhiều lần gửi văn bản kiến nghị cơ quan chức năng của TP.HCM hướng xử lý, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể [2]. Ngoài ra, việc sử dụng thẻ từ cũng dẫn đến một số rủi ro nhất định.
Với bối cảnh các bãi xe cần được mở rộng, nhà xe phải tốn thêm chi phí để mua thêm hàng nghìn thẻ, tăng thêm chi phí. Cũng như là thực trạng người sử dụng làm mất thẻ, việc lưu trữ danh tính của người gửi xe, giấy tờ xe cũng tốn khá nhiều thời gian.4 Hình ảnh minh họa căn cước công dân. Mã QR đang ngày càng trở thành một phương tiện mạnh mẽ trong việc xác thực và quản lý thông tin. Hiện tại mã QR đã được tích hợp trên CCCD và ứng dụng VNeID.
Vì thế, việc ứng dụng thẻ CCCD như là thẻ xe, sẽ là một ý tưởng mang lại chiều hướng mới và hiệu quả. Với những lý do trên, nhóm quyết định thực hiện đề tài đồ án tốt nghiệp “THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ BÃI ĐỖ XE Ô TÔ”. Đề tài nghiên cứu cũng như tạo ra những giải pháp để có thể tối ưu, nâng cao chất lượng và hiệu quả cho bãi xe tập trung vào việc thiết kế và triển khai một hệ thống quản lý bãi đỗ xe mới, sử dụng mã QR từ thẻ Căn cước công dân (CCCD) làm thông tin lưu trữ về người gửi xe và xe được gửi nhằm hạn chế tình trạng xe quá hạn không rõ người gửi xe. Quá trình chuyển đổi từ việc quản lý thẻ xe bằng RFID thông thường sang thẻ CCCD, giúp tăng tính cá nhân hóa và khả năng truy xuất thông tin số CCCD của người gửi xe, đồng thời giảm thiểu khả năng thất lạc thẻ so với thẻ RFID thông thường.
Công nghệ Deep 3 Learning sẽ được tích hợp để nhận diện biển số xe, tăng độ chính xác và tốc độ nhận diện. Ngoài ra, một ứng dụng điện thoại sẽ được phát triển để kết nối các bãi đỗ xe, làm cho hệ thống quản lý bãi đỗ xe trở nên tiện lợi và hiệu quả hơn. So với các nghiên cứu trước đó, công trình này sẽ cải thiện việc quản lý bãi đỗ xe bằng cách sử dụng mã QR từ thẻ CCCD thay vì thẻ RFID, tăng cường tính cá nhân hóa và khả năng truy xuất thông tin số CCCD của người gửi xe. Công nghệ Deep Learning được tích hợp sẽ nâng cao độ chính xác và tốc độ nhận diện biển số xe.
Ứng dụng di động kết nối các bãi đỗ xe sẽ mang lại trải nghiệm người dùng tốt hơn, tạo ra một hệ thống linh hoạt và hiệu quả hơn. Kết quả chính của đề tài là một hệ thống quản lý bãi đỗ xe có khả năng giảm ùn tắc bãi đỗ xe, tăng tính tiện lợi và rõ ràng trong việc lưu trữ thông tin xe tại bãi. Hệ thống này sẽ phù hợp với bất kỳ bãi xe nào ở khu vực đông đúc, giúp giảm tải áp lực và cải thiện trải nghiệm người sử dụng. Qua đó, đề tài sẽ đóng góp vào việc cải thiện việc quản lý bãi đỗ xe tại các trung tâm thành phố trọng điểm Việt Nam.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Đề tài “Thiết kế và thi công mô hình quản lý bãi đỗ xe ô tô” nhằm thiết kế và thi công một hệ thống quản lý bãi đỗ xe tại các khu vực mật động giao thông cao, với các chức năng cụ thể như sau: - Chức năng quản lý thông tin xe đã gửi theo số CCCD của người gửi xe: sử dụng mã QR từ thẻ CCCD để lưu trữ số CCCD người gửi xe và biển số xe được gửi vào hệ thống, hạn chế tình trạng xe quá hạn không rõ người gửi xe và giảm thiểu khả năng thất lạc thẻ so với thẻ RFID thông thường.
Xác nhận khi ra/vào thì phải cũng 1 CCCD và biển số xe. - Chức năng nhận diện biển số xe: tích hợp công nghệ Deep Learning để nhận diện biển số xe. - Chức năng kết nối và hỗ trợ người dùng qua ứng dụng di động: phát triển một ứng dụng điện thoại để kết nối các bãi đỗ xe, giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm và đặt chỗ đậu xe. Ứng dụng cung cấp thông tin về tình trạng bãi đỗ xe, hướng dẫn người dùng đến vị trí bãi xe phù hợp.
4 - Chức năng quản lý xe ra/vào: đảm bảo tính bảo mật cho thông tin cá nhân và dữ liệu xe. Người dùng có khả năng truy xuất thông tin nhanh chóng và chính xác khi cần thiết. Mục tiêu của đề tài là xây dựng một hệ thống quản lý bãi đỗ xe hiện đại, hiệu quả và tiện lợi, nhằm giảm ùn tắc giao thông tại các trung tâm thành phố trọng điểm, nâng cao trải nghiệm người dùng và tối ưu hóa quản lý bãi đỗ xe.3 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Đề tài này có phạm vi giới hạn cụ thể nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của hệ thống quản lý bãi đỗ xe được thiết kế. Các giới hạn bao gồm: - Giới hạn về điều kiện môi trường: môi trường áp dụng đối với đề tài này là môi trường trong nhà dưới ánh đèn, môi trường thiếu ánh sáng tự nhiên được bù bằng ánh sáng từ đèn để đảm bảo đủ độ sáng hướng vào biển số xe.
- Giới hạn về chức năng hệ thống: + Lưu trữ thông tin xe theo số CCCD: sử dụng mã QR từ thẻ CCCD để dùng số CCCD làm cơ sở lưu trữ biển số xe,thời gian xe ra/vào và giá tiền gửi xe. Hệ thống sẽ không hỗ trợ các phương pháp lưu trữ khác như sinh trắc học hay RFID. + Nhận diện biển số xe: chỉ nhận diện biển số xe thông qua công nghệ Deep Learning. + Quản lý xe ra/vào: hệ thống tập trung vào việc quản lý xe ra vào bãi, không bao gồm các chức năng khác như dịch vụ rửa xe, sửa xe hoặc bảo dưỡng xe tại bãi đỗ xe.
+ Kết nối ứng dụng di động: ứng dụng di động sẽ hỗ trợ tìm kiếm và đặt chỗ đậu xe, cung cấp thông tin về tình trạng bãi đỗ xe và hướng dẫn người dùng. Ứng dụng sẽ không tích hợp các chức năng thanh toán trực tuyến hoặc đặt trước các dịch vụ khác ngoài đỗ xe. 5 - Giới hạn về điều kiện dữ liệu đầu vào: + Dữ liệu biển số xe: hệ thống yêu cầu biển số xe phải rõ ràng và đúng quy cách theo tiêu chuẩn Việt Nam để đảm bảo độ chính xác trong nhận diện. + Dữ liệu từ thẻ CCCD: thẻ CCCD phải có mã QR hợp lệ và thông tin chính xác để hệ thống có thể lưu trữ thông tin người gửi và xe.
Hệ thống không hỗ trợ các loại giấy tờ tùy thân khác. + Dữ liệu môi trường: hệ thống yêu cầu môi trường hoạt động phải có kết nối Internet ổn định để đảm bảo việc trao đổi dữ liệu giữa các thành phần của hệ thống và ứng dụng di động. - Giới hạn về khả năng tích hợp: + Tích Hợp Với Hệ Thống Hiện Có: Hệ thống được thiết kế để hoạt động độc lập và sẽ không tích hợp với các hệ thống quản lý bãi đỗ xe hiện có sử dụng công nghệ RFID hoặc các công nghệ khác. + Khả Năng Mở Rộng: Hệ thống sẽ được thiết kế với khả năng mở rộng để phục vụ nhu cầu tăng cao trong tương lai, nhưng trong phạm vi đề tài này, hệ thống sẽ chỉ được triển khai ở quy mô thử nghiệm giới hạn một bãi đỗ xe.
- Giới hạn về mô hình: + Mô hình được thiết kế và mô phỏng với tổng cộng 3 chỗ đậu xe. Điều này có nghĩa là toàn bộ hệ thống và các thuật toán liên quan chỉ áp dụng và kiểm tra trên phạm vi 3 chỗ đậu xe này, không mở rộng ra số lượng chỗ đậu xe nhiều hơn.