mở đầu cho truyện The Murders in the Rue Morgue thì những truyện ngắn về nhân vật nhân vật Dupin đề cập đến việc miêu tả làm thế nào tư duy phân tích lý tính (diễn dịch, qui nạp) kết hợp với trí tưởng tượng để khám phá ra những điều bí ẩn. Những truyện này của Poe không chỉ miêu tả cuộc truy đuổi trực diện những kẻ tội phạm như nhân vật thám tử trong hồi ký của E. Vidocq – một cựu tội phạm, cựu sen đầm Paris và sau này là một thám tử tư – mà Poe đọc đi đọc lại nhiều 15 lần, mà còn theo một cách hết sức mới mẻ là dựa vào cách phân tích các dữ kiện một cách logic để đưa ra một giải pháp. Nói cụ thể, Poe đã khai sinh ra một mẫu người hùng mới cho văn học.
Người hùng cổ điển thường mang trong mình những phẩm chất cơ bản: sức mạnh, sự can đảm…giờ đây với sự xuất hiện của nhân vật thám tử, nhân vật người hùng còn có quyền năng của tư duy nhận thức bằng lý tính. Vì thế, nhân vật thám tử còn được gọi là “người hùng (của) nhận thức luận” (“epistemological hero”), “người hùng (với) tư duy khoa học” (“hero of methodical thinking”). Tuy nhiên, trong truyện ngắn đầu tiên, Dupin tiếp cận đến gần việc điều tra bằng phương pháp khoa học. Ở hai truyện ngắn còn lại, Dupin đã không còn tự đồng nhất mình với nhà khoa học thuần túy, mà anh xem khả năng suy lý của mình như một kiểu tài năng đặc biệt.
“Người hùng” Dupin mang hai đặc trưng: vừa là nhà toán học vừa là một thi sĩ. Sự thiết lập nên khuôn mẫu thám tử kết hợp giữa điều tra hành động mang tính cơ học (rất ít) cùng tư duy phân tích khoa học trở thành khuôn mẫu cho các nhân vật thám tử về sau. Những truyện của Poe về nhân vật Dupin đóng vai trò hết sức quan trọng cho việc hình thành và phát triển cấu trúc truyện trinh thám. Các nhà nghiên cứu, mỗi lúc, lại liệt kê thêm những đóng góp của Poe.
Đó là tình bạn thân giữ hai người đàn ông: một người có tài trí khác thường và một người đồng hành kiêm vai trò người kể chuyện, sau này được gọi là nhân vật Watson (trong truyện của Poe, bạn của thám tử Dupin giữ vai trò người kể chuyện vô danh), thói kiêu ngạo về trí tuệ, tính lập dị của thám tử, những nhân viên công lực ngớ ngẩn, những nhân vật bị tình nghi oan… Tuy nhiên, trong ba truyện ngắn của Poe, chúng tôi thấy nổi lên những motif quan trọng. Những truyện ngắn của Poe đều được xây dựng bối cảnh ở đô thị (ở thành Paris) và những nhân vật của ông: Dupin cùng người bạn kể chuyện vô danh lang 16 thang như những flâneur – những kẻ lãng du trong thành phố. Thành phố trong truyện của Poe được cấu trúc như mê cung có một lối vào và một lối ra, thám tử cứ lần theo sợi dây Ariadne sẽ khám phá ra lối thoát. Thế giới ấy là kiểu thế giới “tiền Saussure” khi mà mối quan hệ giữa hai mặt của ký hiệu là cái biểu đạt và cái được biểu đạt chưa bị xem là có tính võ đoán, tùy tiện.
Trong The Murders in the Rue Morgue, Poe đưa ra motif bí ẩn trong căn phòng khóa kín (looked-room mystery). Thám tử Dupin được mời đến điều tra vụ án mạng mà nạn nhân là hai mẹ con – xảy ra trong một căn phòng đóng kín. Phương pháp điều tra của Dupin là dựa vào suy luận logic. Phương pháp này loại bớt một trong hai khả năng hiện diện đồng thời trong một dữ kiện, nhưng chúng mâu thuẫn với nhau.
Trong truyện ngắn này, đó là: căn phòng đóng kín, không người nào có thể đột nhập vào căn phòng từ bên ngoài và từ bên trong đó cũng không thể nào thoát ra ngoài được. Nhưng, sự thật là đã có kẻ sát nhân đột nhập vào, ra tay gây án mạng rồi thoát ra ngoài. Thám tử Dupin – nhân vật thám tử đầu tiên trong văn học - đã kết luận rằng một yếu tố của câu đố này đã bị bỏ qua ở phần nào đó mà anh phải tìm cho ra. Với giả thuyết tiền đề như vậy, Dupin đã tìm ra được một chiếc móng tay mắt kẹt ở khung cửa sổ trượt.
Dữ kiện này không chỉ giúp Dupin phát hiện ra con đường mà thủ phạm đã đột nhập và đào thoát mà còn giúp anh chỉ ra được thủ phạm là con vượn khổng lồ orangutan. Vì thế, cái gọi là motif “căn phòng khóa kín” trong truyện trinh thám là một mô hình nhận thức, hàm nghĩa: không có bí ẩn nào không khám phá được, chỉ có thám tử “đọc” chưa đúng, đọc sai dấu vết. Đây chính là đặc trưng có tính chất quan trọng của thể loại trinh thám: tư duy khoa học logic là chìa khóa để giải mã mọi bí ẩn. Mọi yếu tố cấu trúc nghệ thuật của thể loại đều nhằm tới mục đích này.
Đến The Mystery of Marie Rogêt, Poe đưa ra mẫu thám tử sa-lon (armchair detective) điều tra mà không cần đến thăm hiện trường hay phỏng vấn nhân 17 chứng…mà bằng cách dựa trên những thông tin do báo chí cung cấp chẳng hạn, cũng có thể chỉ ra nguyên nhân án mạng hay thủ phạm… Thám tử salon liên quan đến tính chất “tĩnh”, chất “siêu hình” của bối cảnh điều tra của thám tử, được biểu trưng theo kiểu thế giới được cấu tạo từ qui luật nguyên nhân – kết quả rõ rệt. Nó nhấn mạnh đến cấu trúc “câu đố” của truyện trinh thám. Truyện dựa trên một vụ án có thật xảy ra ở New York. Nạn nhân là cô Mary Cecilia Rogers – thường được gọi là “cô gái bán cigar xinh đẹp”.
Ngày 4 tháng 10 năm 1838 cô đột ngột mất tích khiến báo chí loan tin thông báo. Nhưng vài ngày sau, cô xuất hiện trở lại. Lý do: cô bỏ trốn đi với người tình là một lính thủy. Ba năm sau, ngày 25 tháng 7 năm 1841, cô lại biến mất.
Lần này, mọi người thấy xác cô nổi trên sông Hudson, phía bang New Jersey, sau đó ba ngày. Hiện giờ, vụ án nổi tiếng này vẫn được cảnh sát New York xếp vào hồ sơ “cold case” – nghĩa là chưa phá án được. Thời đó, Poe cho thám tử Dupin vào cuộc. ông chuyển bối cảnh sang thành Paris, sông Seine và đổi tên nạn nhân thành Marie Rogêt - là nhân viên một cửa tiệm bán nước hoa.
Cuối vụ án, thám tử Dupin nhận định nguyên nhân của án mạng là Marie Rogêt chết là tai nạn lúc phá thai và bị vứt xác xuống sông… Truyện cuối cùng, The Purloined Letter đã đưa ra khả năng lạ lùng của nhân vật thám tử: đặt mình vào vị trí của kẻ tội phạm để “đọc” suy nghĩ của kẻ ấy. Truyện kể rằng, ông bộ trưởng D. đã lấy cắp một lá thư riêng tư, quan trọng của hoàng hậu ngay trước mắt bà (độc giả không biết nội dung lá thư đó). Nhưng vì có mặt vua ở đó nên hoàng hậu không dám hé lời.
Cảnh sát trưởng Paris là ngài G. cho quân vào cuộc, lục soát khắp nơi trong phòng khách sạn mà bộ trưởng D. đang ngụ, nhưng vẫn không tìm ra lá thư. Một tháng sau khi sự việc xảy ra, ngài G.
, đã treo giải thưởng là năm mươi ngàn Franc cho ai tìm được lá thư. Dupin đến gặp ngài G. bảo ông ta viết check thưởng cho anh và ngay sau đó, trao ngay lá thư bị mất ấy cho ông ta. 18 Qua cách Dupin giải thích với người bạn lý do anh tìm được ra bức thư thì có thể kết luận rằng: Dupin không suy nghĩ như một thám tử, anh suy nghĩ như kẻ phạm tội.
Do đó, anh nghiệm ra rằng bộ trường D. sẽ giấu lá thư ở nơi mà cảnh sát không ngờ tới: ngay trước mắt họ. Lá thư được hóa trang thành một mẫu giấy bẩn thỉu, gần như rách bươm, để trên lò sưởi… Cách thức nhân vật thám tử Dupin thâm nhập vào tâm trí kẻ phạm tội như vậy được Michel Foucaul miêu tả là “cuộc chiến trí tuệ giữa tội phạm và thám tử”. Điều cần lưu ý, trong những truyện của Poe không hề miêu tả sự bí ẩn hay những tội ác theo kiểu truyện trinh thám hiện đại thời nay.
Với Poe, bí ẩn, cho dù là án mạng đi nữa, chỉ đơn thuần là một dữ kiện, một nguyên cớ tạo nên các dấu vết cho Dupin trổ tài sử dụng tư duy lý tính của mình. Các nhà nghiên cứu gọi đó là sự “thẩm mỹ hóa tội ác” vì tính khủng khiếp của nó đã bị loại trừ. Án mạng được ký hiệu hóa thành tương đương với một câu đố bí ẩn cần khám phá. Ví dụ, trong The Murders in the Rue Morgue tội ác kinh hoàng lại do một kẻ sát nhân không phải con người, chẳng có mục đích, động cơ gì cả: một con vượn người.
Do đó, với Dupin việc con vượn người lúc gây án phát ra tràng âm thanh, bí hiểm khiến các nhân chứng và cảnh sát lầm tưởng kẻ sát nhân có thể là một người ngoại quốc…Bí ẩn đó, quan trọng hơn cái chết của hai nạn nhân kia, Do đó, Poe không lý giải nguồn cơn tội ác. Truyện Trinh thám Cổ điển Trường phái Anh quốc: Poe – một người Mỹ - sáng tạo nên truyện trinh thám với nhân vật thám tử như là “người hùng suy lý”, được gọi là bằng nhiều tên gọi: truyện trinh thám suy lý, trinh thám ẩn ngữ, trinh thám câu đố…Trong đề tài này, chúng tôi gọi đó là truyện trinh thám cổ điển (classical detective fiction) với mục đích cho tiện so sánh với kiểu truyện trinh mới, với nhân vật thám tử hiện đại hơn sẽ ra đời sau đó ở Mỹ. Tuy nhiên, chính các nhà văn trinh thám Anh mới là người thật sự tạo nên khuôn mẫu thám tử lẫn cấu trúc truyện trinh thám cổ điển. Vì thế, truyện trinh thám cổ điển còn được gọi là truyện trinh thám trường phái Anh quốc.
19 Trường phái này khởi đầu với Conan Doyle và thám tử lừng danh Shelock Holmes – xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết A Study in Scarlet (Bản phác thảo Màu đỏ, 1887). Với Holmes, thám tử đã trở thành một nghề chuyên nghiệp với đặc trưng phá án bằng tư duy khoa học. Sau đó, truyện trinh thám cổ điển đạt cao trào ở “thời kỳ hoàng kim” (“golden age”) – được xác định nằm khoảng giữa hai cuộc Đại chiến Thế giới - với muôn vàn những cách tân về nhân vật, cốt truyện, tình huống truyện…. Những nhà văn nổi tiếng của “thời kỳ hoàng kim” tập trung ở Câu lạc bộ các Nhà văn Trinh thám Anh (Detection Club).
Câu lạc bộ này thành lập vào năm 1928, do Anthony Berkeley (tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là The Poisoned Chocolate/Thỏi Chocolate bị Tẩm độc, 1929) khởi xướng.