Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực đầm Ô Loan có tổng diện tích tự nhiên khoảng 110,0 km² (tương đương 11.000 ha), trải rộng trên địa bàn 6 xã gồm An Cư, An Hòa, An Hải, An Hiệp, An Ninh Đông và An Thạch thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Thủy vực đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích thắng cảnh cấp quốc gia vào năm 1996, giữ vai trò huyết mạch trong việc duy trì đa dạng sinh học và phát triển kinh tế biển của tỉnh. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của các hoạt động nhân sinh đã tạo ra sức ép nặng nề lên hệ sinh thái. Tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn ở phía Tây khiến dòng chảy kiệt quệ vào mùa khô và gây lũ quét nghiêm trọng vào mùa mưa, điển hình là trận mưa cực đoan 400 mm làm mực nước đầm dâng cao đến 2 m. Đồng thời, việc mở rộng tự phát các đầm nuôi tôm thâm canh làm đáy đầm bị nông hóa nhanh chóng, hiện độ sâu trung bình chỉ còn 1,2 - 1,4 m.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác lập các căn cứ khoa học vững chắc từ phân tích phân hóa cảnh quan và đánh giá thích nghi sinh thái, từ đó thiết lập các mô hình hệ kinh tế sinh thái tối ưu ở cấp hộ gia đình và cấp cộng đồng. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích trên cạn và phần đất ngập nước của lưu vực trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015. Kết quả của luận văn đóng vai trò là luận cứ khoa học tin cậy giúp địa phương tái cơ cấu không gian kinh tế, hướng tới mục tiêu nâng cao thu nhập của cư dân thêm 25 - 30% và phục hồi tài nguyên môi trường đầm Ô Loan bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Hệ kinh tế sinh thái (Socio-Ecological Economic System - SEES) được khởi xướng bởi Phạm Quang Anh (năm 1983), tiếp cận không gian sống như một hệ thống liên hoàn gồm 3 phân hệ: tự nhiên, xã hội và sản xuất với 11 cấu trúc cơ bản và 36 chức năng tương tác đa chiều. Đồng thời, tác giả vận dụng mô hình tương tác T-K-U-X của Đặng Trung Thuận (năm 1999) nhằm mô phỏng dòng trao đổi vật chất, năng lượng và tiền tệ giữa các yếu tố tự nhiên (T), kinh tế - xã hội (K) dưới sự điều khiển của con người (U) để tạo ra các sản phẩm kinh tế và duy trì trạng thái môi trường (X).

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết Cảnh quan học hiện đại theo trường phái địa lý Xô Viết và Việt Nam của Vũ Tự Lập và Nguyễn Cao Huần, xác định cảnh quan là một địa hệ tự nhiên - nhân sinh có cấu trúc phân hóa theo không gian. Khái niệm Làng sinh thái của Nguyễn Văn Trương (năm 2006) và nguyên lý Phát triển bền vững theo Báo cáo Brundtland (năm 1987) cũng được tích hợp để định hình các tiêu chuẩn đánh giá mô hình kinh tế hài hòa giữa sinh thái và sinh kế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ đề tài khoa học cấp nhà nước KC.12/11-15, các báo cáo kinh tế - xã hội, niên giám thống kê huyện Tuy An giai đoạn 2010 - 2014 và quy hoạch phát triển kinh tế tổng thể đến năm 2020.

Về cỡ mẫu và phương pháp điều tra: Tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi tiêu chuẩn đối với 180 hộ gia đình (phân bổ đều 30 hộ/xã tại 6 xã thuộc lưu vực) theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đại diện cho các nhóm sinh kế chính: trồng trọt, lâm nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản.

Phương pháp phân tích: Sử dụng quy trình đánh giá thích nghi đất đai theo tiêu chuẩn của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) kết hợp phân tích chi phí - lợi ích (CBA). Việc lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng chính xác hiệu quả kinh tế trên từng đồng vốn đầu tư song hành với mức độ an toàn sinh thái của từng khoanh vi cảnh quan. Toàn bộ cơ sở dữ liệu không gian được xử lý, biên tập và thành lập hệ thống bản đồ cảnh quan tỷ lệ 1:50.000 trên nền tảng phần mềm MapInfo 10.5 trong suốt lộ trình nghiên cứu từ năm 2012 đến đầu năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã phân chia toàn bộ lưu vực 110,0 km² thành 3 tiểu vùng cảnh quan với các đặc trưng hình thái rõ rệt: tiểu vùng đồi núi thấp phía Tây có độ dốc lớn với đỉnh Quảng Đức (468 m) và Động Ngài (376 m); tiểu vùng đồng bằng tích tụ ven sông suối cao 0 - 50 m; và tiểu vùng cồn cát ven biển phía Đông cao 0 - 40 m.

Thứ hai, chế độ khí hậu và thủy hải văn thể hiện tính cực đoan và nhạy cảm cao. Chế độ thủy triều thuộc dạng hỗn hợp thiên về nhật triều với 18 - 22 ngày nhật triều/tháng, biên độ triều dao động từ 1,4 đến 2,4 m. Nhiệt độ nước trong đầm biến thiên từ 23,7°C (tháng 1) đến cực đại 30,9°C (tháng 6). Lượng mưa trung bình năm dưới 1500 mm nhưng phân hóa sâu sắc, dao động giữa các năm từ 900 mm đến 2000 mm, tạo ra các chu kỳ hạn hán gay gắt và ngập lụt cục bộ.

Thứ ba, sự suy thoái không gian đáy đầm diễn ra với tốc độ cao. Đáy đầm tương đối bằng phẳng nhưng độ sâu chỉ còn 1,2 - 1,4 m; ngoại trừ eo thông ra biển sâu trên 4,5 m. Hoạt động đắp bờ nuôi tôm tự phát tràn lan chiếm hơn 60% diện tích bãi triều ven bờ làm bồi lắng trầm tích bùn sét mịn (kích thước hạt Md dưới 0,001 mm), gây tắc nghẽn khả năng tự làm sạch của đầm.

Thứ tư, khi so sánh các mô hình kinh tế hiện trạng, mô hình độc canh tôm thương phẩm bộc lộ rủi ro dịch bệnh lên đến 45% và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Ngược lại, các mô hình kết hợp nông - lâm và thủy sản đa loài sinh thái cho thấy chi phí vận hành giảm 35% và mang lại dòng tiền ổn định hơn qua các năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái tại lưu vực đầm Ô Loan là sự xung đột giữa phát triển kinh tế ngắn hạn và bảo tồn tài nguyên. Khác với các đầm phá mở như Tam Giang - Cầu Hai hay đầm Nại, đầm Ô Loan có cửa thông biển hẹp tại xã An Hải, khiến quá trình trao đổi nước chịu tác động trực tiếp từ sự bồi lấp doi cát phía Đông. Khi thảm phủ rừng đầu nguồn bị suy giảm, lượng vật liệu lục nguyên đổ về đầm qua sông Hà Yến và Suối Đá tăng đột biến, thúc đẩy quá trình nông hóa đáy đầm.

Dữ liệu nghiên cứu thực địa được cấu trúc hóa thông qua bảng ma trận đánh giá thích nghi sinh thái và bản đồ phân vùng chức năng tỷ lệ 1:50.000. Các chỉ số phân tích chi phí - lợi nhuận (CBA) khi được trình bày dạng biểu đồ cột so sánh đã minh chứng rõ nét: mô hình trang trại sinh thái kết hợp vườn - rừng - hồ nuôi thủy sản hữu cơ vượt trội hơn hẳn về tính bền vững dài hạn so với các mô hình chuyên canh tiềm ẩn nhiều rủi ro môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn: Trồng mới và khoanh nuôi tái sinh 350 ha rừng keo lá tràm kết hợp cây bản địa trên các dải đồi dốc xã An Hiệp và An Thạch trước năm 2020, nâng tỷ lệ che phủ rừng lưu vực lên trên 45% nhằm cắt lũ mùa mưa và giữ nguồn nước ngầm cho mùa khô. Cơ quan chủ trì: Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng UBND huyện Tuy An.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu nuôi trồng thủy sản đầm phá bền vững: Cắt giảm ngay 30% diện tích ao nuôi tôm thâm canh tự phát xung quanh đầm, chuyển đổi sang 500 ha mô hình nuôi xen ghép tôm - cua - rong câu và phục hồi bãi thả sò huyết, nghêu lụa sinh thái tự nhiên giai đoạn 2016 - 2022. Cơ quan chủ trì: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Tuy An và UBND các xã ven đầm.

Thứ ba, thiết lập mô hình nông nghiệp sinh thái thích ứng đất cát: Xây dựng 120 ha đai rừng phi lao chắn gió, cố định cát bay kết hợp hệ thống tưới tiết kiệm trồng rau an toàn, đậu phộng và cây ăn quả chịu hạn tại xã An Hải và An Hòa đến năm 2023. Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân huyện Tuy An và cộng đồng cư dân địa phương.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và giám sát môi trường: Đầu tư nạo vét định kỳ luồng lạch cửa đầm An Hải bảo đảm độ sâu lưu thông tối thiểu 2,5 m, kết hợp lắp đặt 4 trạm quan trắc tự động theo dõi độ mặn và chất lượng nước mặt đầm Ô Loan trong lộ trình 2016 - 2025. Cơ quan thực hiện: Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh đầm Ô Loan và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên quản lý tài nguyên, môi trường và quy hoạch tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, UBND huyện Tuy An. Nghiên cứu cung cấp hệ thống bản đồ số và chỉ số khoa học để phê duyệt quy hoạch không gian sử dụng đất và cấp phép nuôi trồng thủy sản.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên, Địa lý tự nhiên, Sinh thái học cảnh quan. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan cấp lưu vực ven biển.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ nông - ngư dân trên địa bàn 6 xã ven đầm. Các đối tượng này có thể áp dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật của các mô hình kinh tế trang trại vườn - đồi, nuôi thủy sản xen ghép để tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, di tích văn hóa. Tài liệu là căn cứ thực tiễn để xây dựng các dự án phát triển sinh kế cộng đồng gắn liền với bảo tồn di tích quốc gia đầm Ô Loan.

Câu hỏi thường gặp

Lưu vực đầm Ô Loan có đặc điểm cảnh quan nổi bật nào phục vụ xây dựng mô hình sinh thái? Lưu vực có diện tích 110,0 km², hội tụ cấu trúc địa hình đa dạng từ đồi núi thấp cao 468 m, dải đồng bằng màu mỡ đến vùng đầm phá nước lợ và cồn cát ven biển. Sự phân hóa này tạo điều kiện lý tưởng để bố trí chuỗi mô hình kinh tế sinh thái liên hoàn: rừng phòng hộ đồi cao, kinh tế vườn đồi, trồng trọt đồng bằng và nuôi thủy sản đầm nước lợ.

Nguyên nhân chính khiến đáy đầm Ô Loan bị cạn dần và suy thoái nguồn lợi thủy sản? Quá trình nông hóa đáy đầm xuất phát từ việc phá rừng đầu nguồn làm gia tăng xói mòn, khiến vật liệu bồi lắng lấp đầy đáy đầm (độ sâu trung bình giảm còn 1,2 - 1,4 m). Đồng thời, việc phát triển tự phát các đầm nuôi tôm thâm canh và cửa biển An Hải bị bồi lấp làm suy giảm nghiêm trọng lượng oxy hòa tan và môi trường sống của sinh vật đáy.

Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái FAO được ứng dụng như thế nào trong đề tài? Phương pháp đánh giá đất đai của FAO được kết hợp với phân tích chi phí - lợi ích (CBA) trên từng đơn vị dạng cảnh quan. Hệ thống ma trận phân tích đối chiếu nhu cầu sinh thái của các loại cây trồng, vật nuôi (như tôm, sò huyết, keo lá tràm) với đặc tính thổ nhưỡng, nguồn nước và địa hình, từ đó phân hạng mức độ thích hợp từ cao đến không thích hợp.

Mô hình hệ kinh tế sinh thái nào được khuyến nghị cho các xã vùng cồn cát ven biển? Tại các xã An Hải và An Hòa, mô hình tối ưu là thiết lập đai rừng phi lao chắn cát dày 50 - 100 m ven biển, kết hợp vùng đệm sản xuất nông nghiệp hữu cơ (trồng dưa, hành tỏi, đậu phụng) áp dụng công nghệ tưới ngầm tiết kiệm nước, vừa cố định cồn cát vừa nâng cao thu nhập trên 120 ha đất cát thoái hóa.

Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ công tác quy hoạch nông thôn mới tại địa phương như thế nào? Luận văn cung cấp bản đồ phân vùng chức năng kinh tế sinh thái tỷ lệ 1:50.000 cho 6 xã lưu vực, giúp chính quyền bố trí chuẩn xác hạ tầng sản xuất, xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm nước thải ao tôm, qua đó hoàn thành tiêu chí số 10 (Thu nhập) và tiêu chí số 17 (Môi trường) trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận về hệ kinh tế sinh thái (SEES), tích hợp thành công đánh giá cảnh quan học với phân tích kinh tế lượng trong quản lý lưu vực đầm phá nhiệt đới.
  • Nghiên cứu đã thành lập hệ thống bản đồ cảnh quan lưu vực đầm Ô Loan tỷ lệ 1:50.000, phân loại chi tiết các tiểu vùng sinh thái trên tổng diện tích tự nhiên 110,0 km².
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên và chỉ ra nguy cơ suy thoái môi trường nước nghiêm trọng do độ sâu đáy đầm chỉ còn 1,2 - 1,4 m cùng sự bùng phát của các ao tôm tự phát.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, trọng tâm là phục hồi 350 ha rừng đầu nguồn và tái cơ cấu 500 ha diện tích nuôi trồng thủy sản sinh thái.
  • Thiết lập lộ trình triển khai thực hiện từ năm 2016 đến năm 2025, tạo bước đệm chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế xanh cho huyện Tuy An.

Để hiện thực hóa các mô hình sinh thái và bảo tồn danh thắng quốc gia đầm Ô Loan, các cơ quan ban ngành tỉnh Phú Yên và chính quyền địa phương cần nhanh chóng tích hợp các kết quả nghiên cứu này vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo.