CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tài liệu 1.1 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái trên thế giới Kinh tế sinh thái phát sinh từ thế giữa thế kỷ 20 khi một nhóm các học giả nhận ra rằng những cải tiến trong chính sách quản lý môi trường và bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ tương lai là phụ thuộc vào việc tìm ra một giải pháp đúng đắn trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Nhiều cuộc hội thảo giữa các nhà kinh tế và sinh thái học đã được tổ chức, đặc biệt là ở Thụy Điển và Hoa Kỳ nhằm khám phá ra sự liên kết giữa hai ngành nghiên cứu này [21]. Điển hình trong các nghiên cứu liên ngành này là lý thuyết kinh tế học sinh thái của R.Costanza trong tác phẩm kinh tế sinh thái. Trong đó, ông đã chỉ ra sự kết nối giữa kinh tế và sinh thái song chưa thể hiện đúng đắn bản chất của chúng trong chu trình vật chất năng lượng hay chính xác hơn là tính liên kết của hệ kinh tế sinh thái [22].
Và "Mô hình hệ kinh tế sinh thái" của L.Vanlierop; "Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững" của S. đã đưa ra những lý luận cơ bản về mô hình hệ kinh tế sinh thái và tính thực tiễn của vấn đề nghiên cứu [20]. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác như Mukhuna, K.Zvorưvkin, Leopold, Ixatsenko, lại phát triển theo hướng đi sâu vào từng khía cạnh của kinh tế sinh thái: Thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, cải thiện môi trường và bền vững xã hội. [23] Từ những kết quả khả quan đạt được ban đầu, các nhà nghiên cứu đã đưa kinh tế sinh thái phát triển lên một nấc thang mới khi thành lập nên "Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái" (ISEE) trong một hội thảo của sinh thái học và các nhà kinh tế được tổ chức tại Barcelona vào cuối năm 1987 với sự tham gia của Robert Costanza, Herman Daly, Charles Hall, Ann Mari Jansson, Bruce Hannon, H.
Odum, và David Pimentel. Tiếp sau đó là sự ra đời của các tạp chí chuyên ngành Kinh tế sinh thái, được khởi xướng vào năm 1989. Các hội nghị quốc tế quan trọng về kinh tế sinh thái đã được tổ chức, nhiều viện nghiên cứu kinh tế sinh thái 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã được hình thành trên thế giới, và một số lượng lớn các cuốn sách đã được xuất bản phát triển cơ sở lý luận cho ngành khoa học này [22]. Kinh tế sinh thái bao gồm kinh tế, sinh thái học và các liên kết hiện có của chúng trong các hình thức của tài nguyên, môi trường kinh tế và phân tích tác động môi trường (hình 1.
Các nhà kinh tế sinh thái được xem xét lại cả hệ sinh thái và kinh tế, ví dụ, mở rộng sự cân bằng vật liệu và mô hình năng lượng của hệ sinh thái cho các câu hỏi kinh tế, áp dụng các khái niệm từ kinh tế để hiểu rõ hơn bản chất của đa dạng sinh học [23].1 Mối quan hệ của lĩnh vực kinh tế sinh thái và kinh tế thông thường và hệ sinh thái, tài nguyên và kinh tế môi trường và phân tích tác động môi trường. [23] Ngày nay, với các ưu điểm trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, kinh tế sinh thái đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và ngày càng hoàn thiện hệ thống lý luận. Đặc biệt, vấn đề xây dựng các mô hình hệ kinh tế sinh thái đã và đang được nghiên cứu cụ thể và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn tại nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, hà Lan, Đức, Nhật Bản, vv. Các khu vực cao nguyên ở châu Âu, Mỹ, Canada, v.
là những vùng đi đầu trong phát triển kinh tế - sinh thái, du lịch và dịch vụ, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch, các nhà đầu tư. Vì vậy, các khu vực này có nguồn thu hàng chục tỷ đô la. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các thành tựu về phát triển kinh tế cùng những lợi ích mà môi trường đạt được đã chứng minh tính hiệu quả của các mô hình hệ kinh tế sinh thái. Điều này chính là cơ sở thúc đẩy các nghiên cứu lí luận sâu sắc hơn và các mô hình được đưa vào áp dụng rộng rãi tại các khu vực với nhiều mục đích khác nhau.2 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái tại Việt Nam Tại Việt Nam, cơ sở lý luận và ứng dụng mô hình hệ kinh tế sinh thái được nghiên cứu đầu tiên bởi tác giả Phạm Quang Anh từ năm 1983 [1].
Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập đến trong các công trình: “Tiếp cận vấn đề kinh tế sinh thái ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Pháp [14] hay “Mô hình kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững nông thôn” của Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải.[11] Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu đã vận dụng những cơ sở lý luận mô hình hệ kinh tế sinh thái trên những lãnh thổ cụ thể như: - Trương Quang Hải và nnk. Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.[7] - Đặng Trung Thuận, Nguyễn Cao Huần và nnk. Nghiên cứu vùng đất ngập nước đầm Trà Ổ nhằm khôi phục nguồn lợi thủy sản và phát triển bền vững vùng ven đầm (2000).[12] - Mô hình kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình - Báo cáo đề tài kinh tế - 01 – 13 của Đặng Trung Thuận. - Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình khác như: mô hình hệ KTST nông thôn bền vững của Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999) [11]; xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp tại xã Kỳ Hợp của Lê Trần Tuấn, Phạm Văn Ngạc; Xây dựng mô hình tự nhiên – kinh tế - xã hội theo hướng Kinh tế - sinh thái - nhân văn và môi trường cho vùng gò đồi Quảng Bình của Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng; đề tài nhánh: “Nghiên cứu đánh giá các mô hình phát triển kinh tế xã hội, tổ chức thực hiện mô hình trình diễn tại Quảng Bình, Quảng trị” của Trần Đình Lý, thuộc đề tài KC 08-07.
Đề tài dựa trên kết quả của 7 đợt khảo sát trong năm 2001 - 2003 để thu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thập dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của 2 tỉnh và nghiên cứu 16 mô hình đã có ở khu vực này, làm rõ mô hình phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị theo quan điểm phát triển hệ thống, đồng thời tiếp cận hai vấn đề chung của cả nước là dân số và xóa đói giảm nghèo. Và mối quan hệ giữa cộng đồng và các hệ sinh thái được quan tâm nghiên cứu chi tiết trong nghiên cứu về làng sinh thái - hệ sinh thái điển hình. Trên cơ sở khảo sát chi tiết các đặc trưng sinh thái, nguồn lực lao động, và phân tích các đặc trưng lý - hóa của đất để quy hoạch chi tiết từng ô, từng thửa theo hình bàn cờ, mỗi ô có diện tích từ 1,5-2 ha. Mỗi ô có đai rừng phòng hộ bên ngoài cùng các mương thoát nước, bên trong phát triển nông nghiệp, thả cá, chuồng nuôi.
Bằng các biện pháp và kỹ thuật nông nghiệp, lâm nghiệp kết hợp với thủy lợi đã làm thay đổi đời sống của người dân xã Triệu Vân. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương mà có thể xây dựng mô hình làng sinh thái với các đặc trưng riêng [13]. Ngoài ra, Viện kinh tế sinh thái đã có nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và một số mô hình làng sinh thái tại 3 vùng sinh thái kém bền vững: đồng bằng úng ngập nước, cát hoang mạc ven biển và vùng đồi núi trơ trọc tại Việt Nam. Một số mô hình làng sinh thái đã được xây dựng như: làng sinh thái Ba Trại, Ba Vì, Hà Tây; làng sinh thái Hải Thủy, Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình được xây dựng trên vùng đồi cát di động; làng sinh thái Phú Điền cũng được đề cập đến.
Hiện nay, mô hình làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở giúp đỡ nhân dân về công nghệ, kỹ thuật nhằm cải tạo hệ sinh thái bản địa theo hướng bền vững, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống cư dân tại đó, đồng thời duy trì sự ổn định cân bằng sinh thái.[19] Với các lợi điểm của mình, mô hình kinh tế sinh thái ngày càng được quan tâm và xây dựng ở nhiều địa phương của Việt Nam để hướng tới sự phát triển bền vững.3 Các công trình nghiên cứu về huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai Đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên vùng Tây Nguyên từ nhiều năm trước, góp phần vào sự phát triển của vùng này. Trong đó phải kể đến Chương trình Tây Nguyên I và Tây Nguyên II cùng với các đề tài, dự 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án độc lập cấp Nhà nước đã triển khai đồng bộ, nghiên cứu điều tra tổng hợp, điều tra cơ bản vùng Tây Nguyên nói chung và trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng. Đặc biệt, tại thời điểm hiện nay, Chương trình Tây Nguyên III (Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên môi trường và KT - XH nhằm đề xuất chiến lược KH&CN phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn 2030) đã và đang được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2015. Kết quả của các nghiên cứu này chính là những cơ sở cho việc thực hiện các quy hoạch, chiến lược cũng như xây dựng, đề xuất các mô hình phát triển kinh tế phù hợp.
Ngoài ra, các ban ngành của tỉnh Gia Lai cũng có một số đề tài nghiên cứu về các hình thức phát triển kinh tế tại địa phương: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, Điều tra tình hình kinh tế trang trại tỉnh Gia Lai, 1999; Kinh tế trang trại Gia Lai: thực trạng và giải pháp, 1999. UBND tỉnh Gia Lai, Mô hình phát triển kinh tế - xã hội làng đồng bào dân tộc Jrai ở tỉnh Gia Lai, 2004. Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh Gia Lai, Nghiên cứu phát triển tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Gia Lai đến năm 2020, 2009. Kết quả các nghiên cứu này giúp lãnh đạo Gia Lai tìm ra hướng phát triển đúng đắn cho tỉnh mình.