CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1.1 Các nghiên cứu vé nước dưới đất trong các đãi cồn cất ven biển LLL Ngoài nước DD được biết đến và khi th c, sử dụng từ thời cỗ xưa (cách đây khoảng 3.000 nam), Khi tổng kết đánh giá các nghiên cứu về nước dưới dắt trong các vùng cất ven biển trên thế giới Phan Văn Trưởng (2012) [13] đã hợp và phân tích các nghiên uu đó như sau: © Châu A, Bắc Phi và kéo di từ Afghanistan đến Moroco, người ta đã dio các giếng nằm ngang để lấy nước ở những ving có địa hình cao cắp nước cho các nông trai. Song song với quá tình sử dụng nước đã xuất hiện những gid thiết và những ý niệm đầu tiên về NDB, dé là: NDB bắt nguồn từ nước đại dương di lên theo các khe nứt của đá đưới áp lực bề mặt (Thales ở Mille, 650 - $48 TrCN) hay người ta cho rằng. nước trong các con sông, trong các mạch nước, hơi nước xuất hiện có liên quan đến hoạt động núi lửa và từ sâu trong lòng dat đi lên, hoặc NDD hình thành do sự ngưng. dong của hơi nước từ khí quyển.
Muôn hơn nữa, Luerexius Caras lạ chỉ raring NDB do nước biển di lên và nhạt hóa hay do nước mưa ngắm xuống mà thành. Thuyết ngắm là học th ét đầu tiên về quá trình hình thành NDĐ, với ban chất đáng tin cậy của nó khi khẳng định sự cung cấp của NDB bing con đường ngắm sâu vào lòng đất của nước mưa, nước tuyết tan và các loại nước trên mặt đất, Tiếp đến, thuyết ngưng ty ra đồi với nội dung cơ bản khi coi ND được hình thành do b mặt các vật iệu dạng hạt lạnh hơn đã hút hết hơi dm từ không khí và ngưng tụ hơi nước trong trong nhiều lỗ hồng nguội ạnh của lớp thổ nhường và đất đã nằm phía dưới. Từ những năm đầu của thé kỹ 17, khoa học nghiên cứu NDB đã có chiéu hưởng phát triển nhiều hơn. Các nước di đầu nghiên cứu và đặt nền móng cho ngành khoa học ĐCTV phải kể đến là Nga, Hà Lan, Phip, Mỹ, Đức, vx.
nỗi bật có Lomonoxoy M. Nhằm phục vụ cho các hoạt động của con người, sử dung NDB ving ven biển đã được nhiều nước trénhé giới i hành với hình thức khai thác bing các lỗ khoan nông, lẫy nước phục vụ cho dân sinh và trồng trot. Qua đó, đã tiến hành mô tả và đánh giá cơ bản về NDD tổ tại trong các ting chứa nước vùng khô hạn và bản khô hạn, đồng thời đưa ra những thông số đặc trưng phục vụ cho công tác khai thác thuận lợi (Alex du Toit, 1906). Khái niệm về các ting chứa nước vùng cát ven 4 biển còn được coi như mỏ nước nhạt: “Mỏ NDP là không gian được giới hạn bởi đường phân thủy, trong phạm vi đó dưới anh hưởng cua các nhân to tự nhiên và nhân tạo đã hình thành điều kiện thuận lợi hơn so với xung quanh để khai thác và sử dụng hợp lý theo mục đích đề ra.
Một phân của mỏ nước được tiễn hành khai thác gọi là khu khai thác” (Ovtchinikov A. Yếu tố hai văn với đặc trưng là chế độ triều ảnh hưởng rất lớn đến động thái NDĐ, đó là tác động của sóng làm thay đổi mực NDD trong các tầng chứa nước ven biển. Để nghiên cứu các tác động của thủy triều đối với NDD vùng ven biển, người ta đã sử dụng phương pháp giải tích, điển hình có các công trình của Jacob (1950), Nielsen (1990), Li và Chen (1991), Sun (1997), Jiao và Tang (1999) và Li, Jiao (2001),.với kết quả xác nhận được sự ảnh hưởng giữa triều vào mực NDP là đồng pha và đã nhận diện được mức độ ảnh hưởng của thủy triều đến chất lượng NDD thông qua các đặc trưng về độ pH, EC và DO (Nielsen, 1990; Ataie - Ashtiani và nnk, 1999; Raubenheimer, 1999;Singh va Gupta, 1997) Một phương pháp nhằm đánh giá lượng cung cấp thâm từ nước mưa đã được Bindeman N.N (1963), Stamm (1967) tính toán dưới dạng giá trị phần trăm lượng nước mưa thấm theo chiều sâu của lớp chứa nước thông qua chuỗi số liệu quan trắc thủy văn trong các lỗ khoan thí nghiệm. Những kết quả nghiên cứu có tính ưu việt và được sử dụng nhiều nhất là tính thực nghiệm khi tính toán khối lượng cung cấp của nước mưa cho NDP dựa trên đặc tinh tro của nguyên tố clorua (Cl-) giữa hàm lượng Cl- có trong NDĐ và nước mưa và gọi là phương pháp cân bằng clorua.
Phương pháp này được đề xuất bởi Allison và Hughes (1978), sau đó, nó được ứng dụng nhiều trong các công trình của Allison và Hughes (1978), Edmunds và Walton (1980), Kitching (1980), Sharma va Hughes (1985), Edmunds và nnk (1988), Sukhija và nnk (1988), Cook va nnk (1989), Scanlon (1991), Edmunds va Gaye (1994), Kennet - Smith va nnk (1994), de Silva (1996), Sukhija va nnk (1996), va de Silva (1998), Martin (2000].Việc xác định cấu trúc chứa nước, nguồn gốc hình thành, tuổi va sự cung cấp hay tiêu thoát của NDD cũng như bảo vệ chúng dựa trên quá trình phân rã của các đồng vị phóng xạ như 13C, 14C, D, T, 180, 36Cl, 226Ra và 222Rn,. và được gọi là phương pháp đồng vị. Phương pháp này đã được áp dụng phô biến từ những năm 70 (thế kỷ XX) đến nay trong nhiều công trình của Hebert., Bui Hoc va Jordan H.Một trong những phương pháp xác định nguồn gốc và điều kiện thành tạo NDD đã được Vinogradov A.đề xuất trên cơ sở xác lập các tỷ số đặc trưng giữa hàm lượng các nguyên tố có mặt trong nước của các đại lượng thuộc chu trình thủy văn, sau đó so sánh với nước biển. Các tỷ số này có dang rNa/rCl, Cl/Br, Br/I.
Nghiên cứu sự vận động của nước nhạt ven biển đã được Girinxki N.N (1948) xác lập nhiều phương trình tính toán lưu lượng dòng nước ngầm trên bờ biển và trong các dao cát ở biển khi giả thuyết rang giữa nước nhạt và nước mặn được ngăn cách bởi đường cong thoải (không tính đến đới hỗn hợp do khuếch tán tạo thành) và coi dòng NDĐ là dòng phẳng một chiều trong tang chứa nước đồng nhất. Nghiên cứu lượng NDD tiêu thoát ra biển là một van đề phức tạp, đòi hỏi có chuỗi quan trắc lâu dai cũng như khối lượng thông tin đa dạng, việc tính toán thông thường dựa trên các nguyên lý thủy động lực NDD (Smiles và Stokes, 1976; Nielsen,1989; Gourlay, 1992; Turner, 1997; Li, 2004). Sau đó đã được đơn giản hoa bằng phương pháp mô hình số (Buddemeier, 1996; Wiliam Burnett C., 2001) hoặc dựa trên lý thuyết phân tán và vận chuyên khối (Bredehoeft và Pinder, 1973; Segol, Pinder va Grey, 1975). Mức độ ảnh hưởng của thảm thực vật đến quá trình hình thành NDD cũng được dé cập đến từ dau thé kỷ XX.
Bằng phương pháp cân bằng nước, cân bằng lượng clorua và các phương pháp tỷ lưu lượng có thê xác định được lưu lượng cung cấp và thoát NDD ở điều kiện tự nhiên và canh tác nông nghiệp của thảm thực vật từ trạng thái ôn định cũng như khi bị xáo trộn. Trên cơ sở đó, kết quả nghiên cứu này đã đưa ra được những phương pháp luận đúng đắn cho khai thác, rửa lũa của đất đá. Tiếp theo đó, nhiều nhà khoa học đã đi sâu giải quyết vấn đề này như Bunsen R. Chất lượng NDD được hình thành từ tổng hợp của nhiều quá trình thành tạo của tầng chứa nước.
Chúng luôn ở trạng thái biến đổi liên tục và phụ thuộc vào điều kiện hình thành, quá trình vận động, thành phần và đặc tính hóa lý của môi trường thạch học cũng như các chất mà nó tiếp xúc. cho rằng sự hình thành thành phần hóa học NDĐ là kết quả của sự phá hủy trạng thái cân băng của hệ thống đất đá - nước - khí - vật chất sống. Chất lượng nước đối với đời sống con người và phát triển kinh tế luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, trong khi, những vùng đồng bằng kể cả vùng ven biển là địa thế thuận lợi cho dân cư tập 16 trung đồng dic và có như cầu sử dụng nước rất lớn. Khởi đầu nghiên cứu thành phần nước nhạt rong cát ven biển phải kể đến các nước Scotland, Hà Lan, Australia, Trung “Quốc, SHlanka,.
điểm là nghiên cứu chất lượng nước trong các ting nông, có ảnh hưởng mạnh mé của nước biển, lối tượng chính là him lượng sắt, độ kiểm, canci (Ranwell, 1972; Gibble và Hall, 1985; Petdjohn, 1987; Paterson, 1997), Nghiên cứu sự hình thành và biển đổi thành phần ho học của NDB là một trong những vin để được các nhà khoa học địa chất thuỷ văn, đặc biệt là các nhà thủy địa hoá quan tim như Picheva KE, Poxokhop EV, Beluxova A.W, Các tác giả đã tiếp cận vin đề biến đổi chit lượng NDĐ theo nhiều cách khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là đánh giá mức độ. biển đối thành phần hoá học nhằm bio vệ NDB khỏi bị nhiễm mặn bởi nước biển và nhiễm bản từ các yếu t6 gây bản. Có những tác giả đi sâu nghiên cứu điều kiện, yếu tổ. hình thành thành phn hoá học của NDB hay nghiền cứu chỉ tết về điều trường địa hoá ảnh hưởng đến sự biển đỗi các nguyên tổ.P dã dễ cập dn và phương pháp nghiên cứu các quá trình hình thành chất lượng NDB, tiến trình phát triển của thành phần hoá học NDĐ đưới ảnh hưởng của quá trình kỹ sinh vả đánh gia được mức độ tổn thương của NDĐ bằng cách sử dụng các chỉ.
sổ, chỉ thị đặc trưng cho sự chống lại nhiễm bin.E đã xác nhận quy luật biến đổi thành phần hoá học của nước thiên nhiên và đánh giá sự bén vững của các nguyên tổ phổ biển rong v6 Trái đắt là sắt, canei, magie, nati, kali, slic, phốt pho, cacbon, lưu huỳnh, clorua.Sự bén vững của các thành phần trong nước được xác định bằng độ hoà tan của các hợp chất tạo thành từ các nguyên tố đó, đánh giá được ai rô của các yếu tổ trong sự hình thành thành phần hoá học của nước ở mức độ khác nhau, thông thường chúng phụ thuộc vào độ tổng khoáng hoá, điều kiện thé nằm của ting chứa nước, điều kiện rằm tích và hoàn cảnh nhiệt động, v.Các tác giả như Appelo AJ, Postma D. Nghiên cứu chỉ tiết hơn Ề địa hoá và ác qui trình nhiễm bin NDB, sự tương tác chặt chẽ giữa dit đá và nước càng với sự tham gia của vi sinh vật đã gây nên sự biến đổi về thành phẫn cũng như ham lượng của các nguyên tổ trong NDĐ, Các tác giả này cũng nhắn mạnh vai trỏ của.