MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế Quốc tế, đất nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và khẳng định vị thế của mình trên trường Quốc tế. Tuy nhiên đi kèm với những cơ hội bao giờ cũng có những khó khăn, thách thức phải đối mặt và trải qua trong quá trình vươn ra thế giới. Chúng ta hiểu rằng để tồn tại và đứng vững, đòi hỏi một sức bật đáng kể của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân như tài chính, thương mại, du lịch, dịch vụ. đặc biệt là ngành xây dựng – một trong những lĩnh vực cơ bản và được xem là thước đo quan trọng để đánh giá sự phát triển của một đất nước Có thể nói, ngành công nghiệp xây dựng giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi ba đặc thù chính là: ngành xây dựng có quy mô lớn nhất trong đất nước, ngành cung cấp phần lớn các hàng hoá đầu tư và Chính phủ là khách hàng của phần lớn các công trình của ngành.
Theo báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020, ngành xây dựng là ngành kinh tế có vị trí, vai trò chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là ngành công nghiệp Xây dựng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên. Theo Ametepey (Ametepey, Aigbavboa, & Ansah, 2015) đã chỉ ra rằng các hoạt động xây dựng thường được mô tả là không tốt và không thân thiện với môi trường tự nhiên. Những công trình với cách xây dựng thông thường tiêu thụ một lượng lớn nguồn tài nguyên không thể tái chế, thải chất thải rắn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí (Alwan, Jones, & Holgate, 2017; Pomponi & Moncaster, 2016).
Cụ thể, ngành công nghiệp xây dựng đã tiêu thụ gần 50% tổng tài nguyên của toàn cầu và tạo ra một nửa lượng CO2 trên toàn thế giới (Thilakaratne & Lew, 2011). Hơn nữa, theo Danko và Chan (Darko & Chan, 2017) cho rằng việc xây dựng tiêu thụ hơn 40% năng lượng của thế giới, 25% nguồn tài nguyên nước và 40% tài nguyên thiên nhiên và cũng chịu trách nhiệm cho hơn 45% lượng chất thải toàn cầu. 1 Điều này đặc biệt đúng đối ở các giai đoạn công trình không hoạt động (quá trình sản xuất vật liệu xây dựng, quá trình xây dựng và quá trình tháo dỡ, xử lý chất thải), những tác động này thường không được kiểm soát và ít khi được đưa vào trong quá trình tính toán (Pomponi & Moncaster, 2018). Các vật liệu xây dựng hiện nay đang tạo ra một lượng lớn CO2 trong cả quá trình xây dựng và trong suốt vòng đời của tòa nhà (M.
Vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã xem xây dựng bền vững là một nhân tố quan trọng nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường (C. Trong bối cảnh đó, xu hướng phát triển “Công trình bền vững” đó là một hoạt động được coi là đóng góp quan trọng, tích cực và hiệu quả nhất của lĩnh vực xây dựng đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Bởi vì, xây dựng bền vững này gắn liền với việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và gìn giữ môi trường tự nhiên để hình thành môi trường nhân tạo. Cũng hàm ý sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và gìn giữ môi trường, Martinez (J Martínez-Alier, 2003) thì cho rằng có 3 trụ cột của phát triển bền vững mà xây dựng bền vững định hướng theo đó là: (i) tái chế, bảo tồn vật liệu và tài nguyên, (ii) cải thiện những cấu trúc vững chắc, (iii) sử dụng các phế thải từ các ngành công nghiệp khác.
Có thể nói, xây dựng bền vững gắn với ba hoạt động căn bản là: tiết giảm, bảo tồn và duy trì. Mở rộng các định nghĩa trên toàn diện hơn, theo cả hướng khôi phục môi trường tự nhiên, Du Plessis lại đưa ra định nghĩa “xây dựng bền vững là một quá trình toàn diện, trong đó các nguyên tắc của phát triển bền vững được áp dụng suốt vòng đời dự án, từ việc khai thác vật liệu thô, sau đó lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng các công trình, cho đến phá dỡ, và quản lý chất thải. Nó là một quá trình toàn diện nhằm khôi phục và duy trì sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên và nhân tạo, trong khi tạo ra các khu định cư khẳng định giá trị con người và khuyến khích bình đẳng kinh tế". Dù có khác nhau dưới nhiều hình thức thể hiện nhưng nhìn chung thì nội dung của xây dựng bền vững là giảm thiểu tác động xấu tới môi trường trong mọi hoạt động tạo nên công trình xây dựng, cả giai đoạn vận hành và phá dỡ công trình, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, nâng cao đời sống của con người sống và làm việc trong môi trường nhân tạo.
Ngành công nghiệp “xây dựng bền vững” không có nghĩa đơn 2 giản chỉ là ngành công nghiệp có thể tiếp tục hoạt động và phát triển, mà còn hỗ trợ các nguyên tắc của phát triển bền vững - đó có thể có nghĩa là trong một số trường hợp cần phải ngừng phát triển, hoặc phát triển theo một cách khác. Đồng thời trong thời gian qua, ý thức về xây dựng bền vững ngày càng được nâng cao ở các quốc gia trên thế giới với mục tiêu chính là tránh cạn kiệt tài nguyên năng lượng, nước và nguyên liệu thô. Các hoạt động này sẽ ngăn chặn suy thoái về môi trường do quá trình sản xuất và xây dựng trong suốt vòng đời của tòa nhà (M. Wahlström et al.
Các thiết kế với mục tiêu về tiêu thụ năng lượng thấp hơn, giảm lượng khí CO2 và nâng cao chất lượng cuộc sống trong tòa nhà xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới (H. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các tòa nhà bền vững có thể làm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên lên gấp 10 lần (H. Nguyen, Skitmore, Gray, Zhang, & Olanipekun, 2017). Hay, theo Hiệp hội Xây dựng bền vững Mỹ năm 2015, 30% đến 60% lượng năng lượng sử dụng cho vận hành tòa nhà đã được tiết kiệm khi so sánh giữa một công trình xây dựng bền vững và công trình thi công thông thường.
Giải thích lý do cho việc này, có thể kể đến yếu tố thứ nhất là việc giảm thiểu lượng chất thải vật liệu xây dựng hoặc được sử dụng lại để tái chế, hay việc sử dụng hiệu quả năng lượng vận hành bằng cách tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như ánh sáng tự nhiên, năng lượng gió và mặt trời. Với những lợi ích rất to lớn của công trình xây dựng bền vững đối với vấn đề về môi trường nên đã thu hút sự chú ý của cộng đồng khoa học, nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định chính sách và người tiêu dùng trên toàn thế giới (Kylili & Fokaides, 2017). Nhu cầu về xây dựng bền vững ngày càng tăng lên không chỉ ở các nước phát triển mà điều này cũng đang diễn ra ở các nước đang phát triển (Hassan Mohamed, Kandil, Senouci, & Al-Derham, 2016). Rõ ràng, việc áp dụng phát triển bền vững vào quá trình xây dựng có phạm vi ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Đối với Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy rằng Việt Nam cũng đã không nằm ngoài xu thế phát triển đó với nhiều công trình xây dựng bền vững được hình thành trong giai đoạn vừa qua. Cụ thể, đến tháng 10/2020 chỉ có khoảng trên 174 công trình ở một đất nước gần 100 triệu dân đạt được chứng chỉ tòa nhà bền vững (tiêu chuẩn nội địa LOTUS, CTX hoặc tiêu chuẩn quốc tế Leed (US), Green Mark (Singapore), 3 EDGE). Do đó, trong thời gian qua có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến việc xây dựng bền vững trong điều kiện Việt Nam. Có thể nhận thấy rằng, các nghiên cứu về công trình xây dựng bền vững trong điều kiện Việt Nam chỉ mới tập trung chủ yếu vào thực trạng cũng như các rào cản trong việc phát triển công trình xây dựng bền vững ở Việt Nam.
Các nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề xây dựng bền vững, chúng ta còn gặp nhiều thử thách và rào cản để phát triển. Chẳn hạn như rào cản về tài chính (Chi phí xây dựng các công trình xây dựng bền vững thường lớn hơn chi phí xây dựng thông thường từ 10% đến 20%); rào cản về năng lực của các đơn vị thiết kế; rào cản của các đơn vị cung cấp vật liệu (H. Tuy nhiên, nghiên cứu các bài viết liên quan đến công trình xây dựng bền vững trong điều kiện Việt Nam giai đoạn 2010 đến nay có thể nhận thấy rằng, các nghiên cứu này chỉ mới nghiên cứu về nhận thức và các rào cản để có thể phát triển công trình xây dựng bền vững tại Việt Nam. Vì vậy, việc đề xuất một mô hình nhằm hỗ trợ ra quyết định việc sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường hơn, thực hiện các kỹ thuật để tiết kiệm tài nguyên, giảm tiêu thụ chất thải và cải thiện chất lượng môi trường trong nhà là rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Mục tiêu của đề tài Trong quá trình phát triển, các nước đang phát triển ngày càng đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa với việc xây dựng ngày càng nhiều các công trình hạ tầng mà đặc biệt là các tòa nhà cao tầng. Việc xây dựng này có tác động đáng kể và liên tục gia tăng áp lực đối với môi trường vì chúng tạo ra một phần lớn lượng khí thải carbon và sử dụng một số lượng đáng kể tài nguyên và năng lượng phục vụ cho quá trình xây dựng. Chính điều này đã gây ra các vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phát sinh nhiều chất thải và thay đổi tình trạng đất đai (Alwan et al. Cụ thể, theo Darko và Chan (Amos Darko, 2017) đã nhận định các hoạt động xây dựng đã tiêu thụ hơn 40% năng lượng của thế giới, 25% nguồn tài nguyên nước và 40% nguồn tài nguyên thiên nhiên và chịu trách nhiệm hơn 45% lượng chất thải toàn cầu.
Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây chúng ta đều nhận thấy biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.