CHƯƠNG 1: GIỚI THIEU DE TÀI 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam đã dành sự chú ý nhiều hơn đến vẫn đề an toàn lao động. Mặc dù sự nhận thức về vẫn đề an toàn lao động đã được nâng cao một cách đáng kế nhưng số vụ tai nạn lao động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng vẫn ở mức rất cao. Căn cứ vào thông báo về “Hình hình tai nạn lao động năm 2013” (Hình 1.2) của Bộ lao động thương bình và xã hội Việt Nam, lĩnh vực xây dựng là ngành chiếm tỷ lệ số vụ tai nạn lao động cao nhất với mức 28.
Cao nhất trong các yếu t6 chan thương của những vu tai nạn lao động van là ngã từ trên cao với ty lệ 26.9% tong số vụ (đứng thứ 2 là điện giật chiếm 21.7% tổng số vụ). Tuy nhiên, những con số trên đây có thé lớn hon rat nhiều vì chỉ có 5.3 % số doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ việc báo cáo tai nạn lao động và nghề nghiệp. 35 30 25 20 15 10 Xây dựng Khai khoáng Sản xuất kinh doanh Cơ Khí chế tạo điện ø Số vụ tai nạn (%) Số người chết (%) Hình 1.Tinh hình ATLD năm 2013 tại Việt Nam (Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội, 2014) HVTH : Bui Hoang Phương CBHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG Trang 2 30 25 20 15 10 Ngã cao Điệngiật May, thiétbi Vật rơi, dé TNGT Vật văng bắn cán, kẹp, cuốn sập ø Số vụ tai tai nạn (⁄%) m Số người chết (%) Hình 1.
Nguyên nhân dân đến tai nạn năm 2013 tại Việt Nam (Nguôn-Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam) Từ những con số thông kê trên, có thé thay ngành công nghiệp xây dựng là một trong các ngành công nghiệp nguy hiểm nhất, có ty lệ cao về chan thương và tử vong liên quan đến tai nạn lao động. Nhiều báo cáo cho thấy các nước đang phát triển luôn có một tỷ lỆ cao về tai nạn lao động liên quan đến xây dựng. Theo (Aksorn and Hadikusumo, 2006), tại Thái Lan năm 2003, tai nạn do ngành xây dựng chiếm 14% tổng số người chết trong khi làm việc. Tỷ lệ công nhân xây dựng có khả năng bị khuyết tật vĩnh viễn nhiều hơn năm lần so với những người trong ngành công nghiệp khác.
(Fang and Wu, 2013) chung quan điểm với (Mohamed, 1999) rang tai nạn xây dựng gay tôn thất lớn về tài sản, làm gián đoạn hoạt động của công trường, tiến độ dự án chậm trễ, và ảnh hưởng xấu đến tong chi phí, năng suất và uy tín của ngành công nghiệp xây dựng. Theo công bố của Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam thì thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra năm 2013 (chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thuong,.85 ty đồng, thiệt hại về tài sản là 6. Tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao động là 153,658 ngày. Tất nhiên đây chưa phải là con số cuối cùng vì như đã nói ở trên là chỉ có 5.3% số doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ việc báo cáo an toàn định kỳ.
Theo (Mohamed, 1999), ngành công nghiệp xây dựng có sự nghèo nàn HVTH : Bui Hoang Phương CBHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG Trang 3 trong văn hóa an toàn thì việc cỗ găng cải tiến an toàn sẽ không hoàn toàn hiệu quả cho đến khi văn hóa an toàn xây dựng được cải thiện. Theo (Fung et al., 2005), việc thực hiện tốt văn hóa an toàn chắc chắn có thé giúp các tổ chức để kiểm soát và giảm chi phí xây dựng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức trong thời gian dài. Những chương trình an toàn hiệu quả và nên văn hóa an toàn tốt có thê được áp dụng cho tổ chức bởi vì nó khuyến khích sự hợp tác giữa các nhà quản lý và những công nhân (những người có nguy cơ cao về tai nạn) trong việc quyết định sự an toàn và sức khỏe của họ (Aksorn and Hadikusumo, 2006).
Cho đến nay việc thực hiện các nghiên cứu về vẫn đề văn hóa an toàn tại Việt Nam còn khá hạn chế. Các nghiên cứu về an toàn chủ yếu là xác định, sau đó xếp hạng các yếu tô gây tai nạn lao động hoặc anh hưởng đến việc thực hiện an toàn trên công trường. Do đó việc kiểm tra mối tương quan và sự tương tác giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn xây dựng là cần thiết, nó giúp các tô chức xây dựng có thể hiểu rõ hơn mức độ tác động của các nhân tố lên văn hóa an toan, qua đó sẽ góp phan cải thiện van dé an toàn xây dựng nói chung. Cau hoi nghiên cứu Các yêu tô nào ảnh hưởng đền văn hóa an toàn xây dựng trong một tô chức nhà thầu? Các nhân tô văn hóa an toàn tương tác với nhau ra sao? 1.
Mục tiêu (mục đích) nghiên cứu v Nhận dạng các nhân tô ảnh hưởng đến văn hóa an toàn trong các t6 chức nhà thâu. v Phát triển mô hình đánh sự thành công về văn hóa an toàn v Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tô trong văn hóa an toản. Để xuất một mô hình lý thuyết động vẻ chỉ số văn hoá an toàn. Đối tương và pham vi nghiên cứu 1.
Đối tương nghiên cứu Các tổ chức nhà thâu có tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như HVTH : Bui Hoang Phương CBHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG Trang 4 thi công, tư vần giám sát, tư vân quản lý dự án. Pham vi nghiên cứu Vì chi phí và thời gian bị hạn chế nên đề tai được thực hiện tại các tổ chức đang hoạt động tại Tp. Hỗ Chí Minh và các vùng phụ cận.
Những người tham gia nghiên cứu dang làm việc trong các t6 chức nhà thầu như giám đốc dự án, chỉ huy trưởng/phó, giám sát, tư van giám sát, cán bộ quản lý an toàn. Họ được xem là những người có nhận thức tốt về van dé an toàn và có kinh nghiệm trong việc thực hiện an toàn. Dong sóp về học thuật Bồ sung nghiên cứu về văn hóa an toàn xây dựng nói riêng trong vẫn đề an toàn lao động trong xây dựng nói chung. Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn.
Nghiên cứu kết hợp mô hình phân tích thống kê với mô hình động học hệ thống (System Dynamics) thành lập mô hình lý thuyết động cho văn hóa an toàn. Dong sóp về thực tiễn Kết quả của dé tài sẽ giúp nhận biết sự tương tác giữa các nhân tổ trong văn hóa an toàn. Từ đó có thể giúp các nhà quản lý có thể đưa ra được các quyết định một cách chính xác hơn đôi với văn hóa an toàn. HVTH : Bui Hoang Phương CBHD: TS.
LƯƠNG ĐỨC LONG Trang 5 CHƯƠNG 2: TONG QUAN Đề tài này đi theo quy trình nghiên cứu của luận văn tiễn sĩ “A System Dynamics Approach to Construction Safety Culture” do tác giả Thanwadee Chinda thực hiện thang 10/2007. Do đó một số lý thuyết, các yếu tô ảnh hưởng đến văn hóa an toàn đã được sử dụng lại, đồng thời cập nhật sao cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Tp Hồ Chí Minh. Giới thiêu văn hóa an toàn. Văn hóa an toàn Theo (Edwards et al., 2013) thuật ngữ “Văn hóa an toàn” lần đầu tiên được sử dung trong báo cáo INSAG-7 của tô chức nguyên tử quốc tế (IAEA) sau khi xảy ra thảm họa nha máy điện hạt nhân Chernobyl 1986.
Một trong những nguyên nhân của thảm hoa là việc thiếu văn hóa an toàn ở cấp độ nhà máy và quốc gia. Báo cáo từ tổ chức an toàn lắp đặt nguyên tử (ACSNL1993) đã được (Wright et al., 1999), (Fang and Wu, 2013) trích dẫn đã định nghĩa “văn hóa an toàn của một tô chức là sản phẩm của cá nhân và những giá trỊ tập thé, là sự nhận thức, thái độ, năng lực nhăm xác định sự cam kết, phong cách và trình độ quản lý về sức khỏe và an toàn của một tô chức. Những tô chức với một nền văn hóa an toàn tích cực được đặc trưng bởi việc giao tiếp dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nhận thức về những vần dé an toàn quan trọng và tự tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa”.1 — Một số định nghĩa về văn hóa an toàn (Choudhry et al, 2007) Nguồn tham khảo Định nghĩa về văn hóa an toàn (Hale, 2000) Van hoa an toan lién quan đến “thái độ, niềm tin va nhận thức được chia sé bởi một nhóm người, nó xác định làm thê nào họ hành động và phản ứng trong môi quan hệ với rủi ro và hệ thông kiêm soát rủi ro.” (Guldenmund, 2000) “Văn hóa an toàn được định nghĩa như là những khía cạnh của văn hóa tô chức tác động lên thái độ và hành vi liên quan dén việc tăng hoặc giảm những rủi ro” (Cooper Ph., 2000) Văn hóa là “san phẩm của nhiều mục tiêu trực tiếp tác động lẫn nhau giữa con người (tâm lý), công việc (hành vi) và t6 chức; Trong khi văn hóa an toàn là “quan sát mức độ cô gắng băng cach nao đó tat cả những thành viên của tô chức hướng sự quan tâm và những hành động của họ đến việc cải thiện an toàn” (Mohamed, 2003) Văn hoa an toàn là một mặt phụ cua van hoa tô chức, nó ảnh hưởng thái độ và hành vi của công nhân liên quan với hiệu suat an toàn của một tô chức. HVTH : Bui Hoang Phương CBHD: TS.
LƯƠNG ĐỨC LONG Trang 6 2. Văn hóa an toàn trong xây dựng Theo (Fang and Wu, 2013) trích dẫn từ (Fang et al., 2006) đã định nghĩa văn hóa an toàn xây dựng như là bộ các niềm tin và giá tri được chia sẻ trong toàn thé tổ chức, nó ảnh hưởng đến cuộc sống, và liên quan đến nhận thức, hành vi của tất cả nhân viên và các bên liên quan. Thông qua việc xem xét các thiết lập của dự án, sự thay đôi và cải tiến đã được thực hiện để định nghĩa cho một dự án xây dựng. Những thuộc tính quan trọng của những dự án xây dựng cần được dé cập bao gồm thực hành quan lý, quy trình xây dựng, xây dựng tạm thời đội ngũ tổ chức dự án , thực hành các van dé môi trường va quan lý công trường,v.
Văn hóa an toàn trong xây dựng do đó nên khác với văn hóa an toàn tô chức về phạm vi và thành phan (Fang and Wu, 2013).