CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ b. Màng đặc Màng có cấu trúc đồng nhất và không có lỗ xốp, các chất vận chuyển qua màng là do quá trình khuyếch tán dưới các lực dẫn động như: chênh lệch áp suất, chênh lệch nồng độ, chênh lệch điện thế… Quá trình tách một hỗn hợp có quan hệ trực tiếp đến tốc độ vận chuyển tương đối của từng thành phần đối với màng, được xác định bằng sự khuyếch tán và sự hòa tan của chúng trong vật liệu màng [14]. Theo đó, màng đặc có thể tách được những thành phần giống nhau về kích thước, nhưng phải có sự chênh lệch nồng độ lớn.
Hầu hết các màng màng tách khí và màng thẩm thấu ngược đều có cấu trúc dạng màng đặc. Màng có cấu trúc bất đối xứng Tốc độ truyền tải vật chất của màng tỉ lệ nghịch với bề dày của màng. Tốc độ truyền tải cao là yêu cầu quan trọng trong quá trình phân tách, nhằm đem lại hiệu quả sử dụng cũng như tính kinh tế. Bởi vậy, màng càng mỏng thì hiệu quả sử dụng càng tốt.
Tuy nhiên, màng quá mỏng sẽ không thể chịu được áp lực lớn, dễ hư hỏng, nên cũng không có khả năng áp dụng trong thực tế. Với yêu cầu lớp màng đặc phải mỏng và đạt cơ tính cao, màng lọc bất đối xứng là một đột phá về công nghệ chế tạo màng với lớp trên không lỗ xốp được trợ lực bằng một lớp xốp bên dưới. Màng lọc bất đối xứng sẽ kết hợp được tính chọn lọc cao của màng không lỗ xốp và cơ tính được cải thiện nhờ lớp dưới với bề dày phù hợp. Với lớp dưới có nhiều lỗ xốp sẽ ít ảnh hưởng đến quá trình truyền khối, do đó hiệu suất lọc được xác định chủ yếu là do lớp trên [15].
Màng lọc bất đối xứng có thể được hình thành với lớp dưới và lớp trên là những loại vật liệu khác nhau gọi là màng composite, hoặc cả hai lớp đều được cấu thành từ một loại vật liệu với các phương pháp chế tạo phù hợp sẽ hình thành nên cấu trúc bất đối xứng [16], [17]. HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 6 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ 1. Sự vận chuyển của khí đi qua màng bất đối xứng Polysulfone Trong quá trình tách khí, khả năng chọn lọc và khả năng thẩm thấu là hai thông số quan trọng để xác định hiệu quả của quá trình lọc khí.
Hiệu quả sử dụng cao hay thấp đều phụ thuộc vào cấu trúc của màng lọc như: chiều dày lớp trên, kích thước và mật độ lỗ xốp của lớp dưới. Trong suốt quá trình lọc khí, các phân tử khí sẽ đi qua màng bằng nhiều cơ chế khác nhau như [5]: (a) Cơ chế khuếch tán Knudsen. (b) Cơ chế khuếch tán bề mặt. (c) Cơ chế khuếch tán dung dịch.
(d) Cơ chế khuếch tán sàng phân tử. (e) Cơ chế mao dẫn. Dưới đây là hình ảnh minh họa các cơ chế nói trên: Hình 1.2: Các cơ chế khuếch tán của phân tử khí qua màng lỗ và màng không lỗ [5] Dòng khí vận chuyển qua màng lọc polysulfone có cấu trúc bất đối xứng là sự kết hợp của sự vận chuyển qua màng lỗ và màng không lỗ. Nói cách khác, cơ chế lọc khí của màng bất đối xứng gồm: Sự vận chuyển dòng khí qua lớp dưới của màng bất đối xứng: Trước tiên, dòng khí từ bên ngoài được thổi vào lớp lỗ xốp của màng với áp suất nhất định.
Các phân tử khí sẽ được khuếch tán vào bên trong nhờ các lỗ ở mặt ngoài HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 7 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ của lớp dưới. Sau đó, các phân tử khí sẽ vận chuyển vào bên trong lớp dưới ở các lỗ có đường kính lớn. Tại đây, sự va chạm chủ yếu là của các phần tử khí với nhau [13].
Theo định luật khuếch tán thì sự vận động của vật chất sẽ đi từ nơi có nồng độ cao sang nơi có nồng độ thấp, cũng như đi từ nơi có áp suất cao sang nơi có áp suất thấp. Do đó, các phân tử khí sẽ tiếp tục đi sâu vào bên trong màng đến vùng có đường kính lỗ nhỏ hơn. Lúc này, sự di chuyển của các phân tử khí là do sự va chạm của nó lên thành tường của các lỗ. Dòng khí tại vùng có các lỗ đường kính nhỏ được gọi là dòng Knudsed.
Mật độ dòng Knudsen được tính bởi công thức: × × × ×∆ = (1.1) × × × Hằng số khuếch tán Knudsen được tính theo công thức: 8 = 0.2) Trong đó: n: số lỗ xốp có trong màng r: bán kính lỗ R: hằng số khí T: nhiệt độ (Kelvin) l: bề dày màng τ: hình dạng của lỗ Dk: hằng số khuếch tán Knudsen Mw: trọng lượng phân tử ∆P: chênh lệch áp suất giữa hai vùng dòng chất đi vào và đi ra Sự vận chuyển của dòng khí qua lớp trên của màng bất đối xứng: Dòng khí khi qua đến lớp trên sẽ vận chuyển theo cơ chế khuếch tán dung dịch được mô tả như sau [13]: Permeability (P) = Solubility (S) + Diffusivity (D) - Độ hòa tan (Solubility): thông số nhiệt động đo lường sự thẩm thấu qua màng dưới điều kiện cân bằng. Độ hòa tan của khí trong polyme là rất thấp và được miêu tả bằng luật Henry. HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 8 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ - Sự khuếch tán (Diffusivity): phụ thuộc hình dạng phân tử thẩm thấu nếu kích thước phân tử lớn thì khả năng khuếch tán sẽ giảm.
Hầu hết các màng polyme thương mại đều hoạt động theo cơ chế này khi lọc khí. Cơ chế khuếch tán dung dịch này gồm ba bước: + Các phân tử khí sẽ được giữ tại ranh giới giữa bề mặt lớp dưới và lớp trên. + Có sự khuếch tán chủ động qua màng. + Giải hấp hoặc bay hơi trên hướng khác.1: Hệ số thẩm thấu của một số loại vật liệu làm màng lọc [16] POLYME Hệ số thẩm thấu POxy/PNito Cellulose triacetate 5.95 Cơ chế khuếch tán dung dịch này được thúc đẩy bởi sự khác nhau về hệ số nhiệt động của phần trên và phần dưới của màng, cũng như hệ số khuếch tán của phân tử thẩm thấu với vật liệu tạo màng.
Khả năng thẩm thấu của lớp đặc bên trên phụ thuộc vào sự tương tác hóa lý của các phân tử khí với màng lọc và sự tương tác của các loại khí với nhau.1 liệt kê tỷ số hệ số thẩm thấu của oxy và nitơ của một số loại vật liệu làm màng lọc [16]. Phương pháp tạo màng đảo pha Đảo pha là quá trình polyme chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn. Quá trình hình thành màng thường được khởi đầu bằng quá trình chuyển trạng thái từ lỏng sang hai lỏng (tách pha lỏng-lỏng). Ở một giai đoạn nào đó trong suốt quá trình tách pha, một pha lỏng có tỷ trọng polyme cao sẽ hóa rắn để tạo thành cấu trúc màng [14].
HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 9 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ Bằng cách kiểm soát giai đoạn đầu của sự chuyển pha, màng tạo thành có những hình thái khác nhau như: màng không có lỗ xốp, màng có lỗ xốp hoặc màng bất đối xứng… Tạo màng bằng quá trình đảo pha có thể được phân thành bốn phương pháp cơ bản sau: 1. Kết tủa nhiệt Đây là quá trình đơn giản nhất để tạo màng vi xốp, polyme được hòa tan trong dung môi ở nhiệt độ cao để tạo thành dung dịch đồng nhất. Sau đó, dung dịch sẽ tách ra thành hai pha khác biệt: pha rắn giàu polyme và pha lỏng giàu dung môi khi làm lạnh.
Phương pháp này dựa trên hiện tượng bay hơi dung môi làm tăng nồng độ polyme khi hạ nhiệt độ. Tức là, theo kỹ thuật này dung dịch polyme (có thể gồm một hoặc nhiều loại dung môi) sẽ được làm lạnh sẽ xảy ra sự tách pha. Sự bay hơi dung môi dẫn đến sự hình thành màng với một lớp trên rất mỏng thường được ứng dụng cho màng siêu lọc. Kết tủa từ sự bay hơi dung môi Trong kỹ thuật này, polyme được hòa tan với hỗn hợp dung môi dễ bay hơi và phi dung môi.
Dung môi dễ bay hơi hơn so với phi dung môi sẽ thoát ra ngoài dẫn đến sự thay đổi thành phần dung dịch trong suốt quá trình đảo pha [14]. Sự thay đổi các thành phần chỉ chấm dứt khi màng phim chỉ còn phi dung môi và polyme. Do đó, polyme sẽ được kết tủa trong phi dung môi và hình thành nên cấu trúc màng. Kết tủa từ pha hơi Một lớp dung dịch đúc gồm polyme và dung môi được đặt trong môi trường pha hơi là phi dung môi bão hòa trong dung môi.
Tỷ trọng dung môi cao trong pha hơi ngăn chặn quá trình bay hơi của dung môi từ lớp phim. Màng được hình thành bởi sự khuếch tán của chất phi dung môi vào trong lớp dung dịch đúc hình thành cấu trúc xốp đối xứng và không có lớp đặc phía trên. HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 10 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS. LA THỊ THÁI HÀ 1.
Kết tủa ngâm Trong kỹ thuật này, dung dịch polyme được ngâm vào trong một bể phi dung môi. Trong suốt quá trình ngâm, sự trao đổi dung môi và phi dung môi có trong dung dịch polyme và bể phi dung môi xảy ra sẽ hình thành nên cấu trúc màng. Cấu trúc màng cuối cùng đạt được là do sự kết hợp của quá trình truyền khối và tách pha. Sự thay đổi các điều kiện trong quá trình kết tủa sẽ hình thành màng có những cấu trúc khác nhau [18].
Đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để chế tạo màng bất đối xứng và được phân thành ba phương pháp chính sau đây: a. Phương pháp đảo pha kết tủa ngâm trong phi dung môi yếu Phương pháp này được trình bày bởi Mulder, màng có cấu trúc bất đối xứng được hình thành khi ngâm kết tủa một dung dịch polyme trong một bể đông kết chứa phi dung môi yếu. Quá trình hình thành màng được trình bày theo sơ đồ bên dưới [18]: Hình 1.3: Sơ đồ phương pháp đảo pha kết tủa ngâm trong phi dung môi yếu [18] Màng được ngâm vào trong bể đông kết chứa phi dung môi yếu sẽ xảy ra quá trình trì hoãn sự tách pha hình thành cấu trúc bất đối xứng. Ví dụ: cấu trúc bất đối xứng của màng hình thành từ quá trình ngâm hỗn hợp PSf-NMP trong phi dung môi yếu 2- propanol (IPA).
HVTH: PHAN QUỐC PHÚ Trang 11 CHƯƠNG 1 | TỔNG QUAN GVHD: TS.