CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 5 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG - CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN - CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ THÀNH CÔNG - CHƯƠNG 5: SỰ KHÁC NHAU GIỮA CÁC YẾU TỐ THÀNH CÔNG VÀ LỢI ÍCH DỰ ÁN MANG LẠI - CHƯƠNG 6: PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CHÍNH - CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN CẤU TRÚ CỦA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Hình 1. 1 Cấu trúc Đồ án tốt nghiệp 6 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG 1.7 Quy trình thực hiện nghiên cứu: Hình 1.
2 Mục tiêu nghiên cứu 7 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. 1 Tóm tắt chương: Hình 2. 1 Tổng quan chương 2 2.1 Giới thiệu chung về mô hình hợp tác đối tác công tư PPP: Hình thức PPP (Đầu tư theo phương thức đối tác công tư) được hiểu là hình thức hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư theo định nghĩa của các tổ chức tín dụng như WB, ABD, JICA,… nhằm thực hiện một dự án hoặc cung cấp dịch vụ thuộc trách nhiệm của nhà nước.
Theo Hội đồng Quốc gia về PPP của Canada, thì mô hình PPP là liên doanh giữa khu vực công và khu vực tư, dựa trên sự chia sẻ chuyên môn của mỗi bên để đáp ứng hiệu quả các nhu cầu xã hội được xác định rõ ràng. PPP hướng đến việc phân bổ hợp lý các nguồn lực, kết quả và rủi ro giữa các bên liên quan. 8 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG Hội đồng Quốc gia về PPP của Mỹ (National Council of Public Private Partnership) định nghĩa PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư, tận dụng lợi thế của mỗi bên để xác định nhu cầu cộng đồng và phân bổ hợp lý các nguồn lực.
Tại Việt Nam, Luật PPP 2020 có hiệu lực ngày 01/01/2021, đã xây dựng được một cơ sở pháp lý và các quy định cho việc triển khai và thực hiện các dự án PPP. 2 Khung pháp lý của mô hình hợp tác đối tác công tư PPP tại Việt Nam Hình thức đầu tư theo PPP Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 quy định về hình thức PPP theo phương thức hợp tác có thời hạn. Đây là hình thức đầu tư dựa trên sự hợp tác giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm thu hút nguồn vốn từ khu vực xã hội và tư nhân tham gia vào các dự án PPP (khoản 10 Điều 3). Hợp đồng PPP theo phương thức hợp tác có thời hạn được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp tư nhân hợp tác.
Mỗi dự án PPP sẽ có một loại hợp đồng tương ứng phù hợp với đặc điểm và yêu cầu cụ thể của từng dự án, hiện nay có 06 loại hợp đồng như sau: 9 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG Loại hợp đồng Giải thích từ ngữ BOT (Xây dựng - Nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh và vận hành công trình trong thời hạn nhất định. Kinh doanh - Chuyển Sau khi hết hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho Nhà nước. giao) BTO (Xây dựng - Nhà đầu tư xây dựng công trình, sau khi hoàn thành chuyển giao cho Nhà nước.
Chuyển giao - Kinh Nhà đầu tư được quyền kinh doanh và vận hành công trình trong thời hạn nhất doanh) định. BOO (Xây dựng - Sở Nhà đầu tư xây dựng, sở hữu và kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định. hữu - Kinh doanh) Sau khi hết hạn, nhà đầu tư chấm dứt hợp đồng. O&M (Kinh doanh - Nhà đầu tư kinh doanh và quản lý một phần hoặc toàn bộ công trình sẵn có trong Quản lý) thời hạn nhất định.
Sau khi hết hạn, nhà đầu tư chấm dứt hợp đồng. Nhà đầu tư xây dựng công trình và chuyển giao cho Nhà nước sau khi hoàn thành. BTL (Xây dựng - Nhà đầu tư được quyền cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở vận hành, khai Chuyển giao - Thuê thác công trình trong thời hạn nhất định. Nhà nước thuê dịch vụ và thanh toán cho dịch vụ) nhà đầu tư.
Nhà đầu tư xây dựng công trình và cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở BLT (Xây dựng - vận hành, khai thác công trình trong thời hạn nhất định. Nhà nước thuê dịch vụ và Thuê dịch vụ - thanh toán cho nhà đầu tư. Sau khi hết hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho Chuyển giao) Nhà nước. Theo Nghị quyết số 98/2023/QH15, thêm loại: - Hợp đồng Xây dựng – chuyển giao (Build – Transfer, BT) Hình 2.
3 Các loại hợp đồng PPP Hình 2. 4 Hợp đồng BT 10 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG Hình 2. 5 Hình thức Hợp tác & Đầu tư sau khi ký kết (Trích từ Luật PPP 2020) Tuy nhiên, qua thời gian vận hành, một số quy định của Luật PPP bộc lộ những hạn chế, gây cản trở nhà đầu tư.
Tháng 08/2023, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh, mở ra nhiều cơ chế mới, hướng đi mới cho thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, nổi bật là các quy định liên quan đến triển khai các dự án PPP như: mở rộng lĩnh vực áp dụng đầu tư theo phương thức PPP; cho phép áp dụng hợp đồng BOT đối với các dự án đầu tư xây dựng nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa công trình đường bộ hiện hữu; cho phép áp dụng hợp đồng BT được thanh toán bằng ngân sách nhà nước. Có thể nói, các quy định này cho thấy tính đột phá cao khi không chỉ khắc phục được một số hạn chế còn tồn tại ở khung pháp lý hiện hành mà còn tạo thuận lợi nhất định cho các dự án PPP đã, đang và sắp thực hiện tại TP.
Hồ Chí Minh. Nhưng ở một mặt khác, với những điểm đang chưa tương thích với khung khổ luật PPP hiện tại, việc áp dụng Nghị quyết 98 nhằm triển khai dự án PPP đang được xem là chưa thực sự khả thi với nhà đầu tư.2 Thành công của dự án: Một dự án đầu tư được coi là thành công khi đạt được những mục tiêu đề ra khi lập dự án trong phạm vi thời gian, ngân sách và các yêu cầu khác được xác định trước. Tuy nhiên, thành công của một dự án không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành các mục tiêu kỹ thuật và tài chính. Nó còn liên quan đến 11 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
LÊ HOÀI LONG việc mang lại giá trị cho khách hàng, đáp ứng mong đợi của họ và mang lại lợi ích đáng kể cho tổ chức thực hiện dự án. Ngoài ra, thành công của dự án thường được định nghĩa là đạt được các mục tiêu về thời gian, chi phí và chất lượng và làm hài lòng các tổ chức liên quan (Baccarini, 1999). Đánh giá thành công của một dự án cũng có thể dựa trên các yếu tố như sự hài lòng của các bên liên quan, sự đồng bộ về quy hoạch, đồng bộ về cơ sở hạ tầng, mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội, đóng góp cho sự phát triển bền vững và mục tiêu từ khi lập dự án đề ra. Khái niệm “thành công của dự án vẫn còn được định nghĩa rất mơ hồ bởi vì việc để xác định dự án có thành công hay thất bại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cũng như kết quả mà dự án đó mang lại”.
Do đó nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc xác định các yếu tố thành công để tăng cơ hội thành công cho dự án.3 Ưu điểm và nhược điểm của dự án PPP Một trong những ưu điểm chính của PPP là có thể giải quyết vấn đề về ngân sách và tiết kiệm nguồn lực của ngân sách của Nhà nước. Chính phủ chỉ cần tập trung vào việc quản lý nhà nước trong việc thực hiện dự án mà không cần phải dựa vào nguồn vốn từ ngân sách để thực hiện dự án. Bên cạnh đó, Chính phủ có thể nâng cao chất lượng của các cơ sở hạ tầng công cộng và dịch vụ công. Mặt khác, việc sử dụng hợp lý các công nghệ, kinh nghiệm và quản lý của khu vực tư nhân, các dịch vụ công có thể được tiếp cận và tiếp thu được nhiều kinh nghiệm cũng như tiếp cận được công nghệ mới từ các nước phát triển.
Tuy nhiên, về cơ chế và khung pháp lý dự án PPP, từng loại hợp đồng sẽ phù hợp cho từng lĩnh vực và suất đầu tư khác nhau. Nên bài nghiên cứu của em sẽ nghiên cứu về lĩnh vực hạ tầng bảo vệ môi trường, điển hình là dự án PPP về xây dựng nhà máy xử lý nước thải theo hình thức PPP tại Việt Nam. Việc hiện nay các dự án PPP ở Việt Nam chỉ tập trung ở lĩnh vực giao thông theo hình thức BOT vì Nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận theo số năm ký kế hợp đồng với Nhà nước mà không cần dùng đến nguồn ngân sách. Tuy nhiên, ở lĩnh vực môi trường, thì đơn giá xử lý nước thải chỉ được tính tối đa không quá 40% phí nước sạch và không thể để người dân trả phí quá cao (Theo thông tư 63/2013 của Bộ Tài chính).
Điều đó dẫn đến Nhà nước phải bù chỉ chi phí đầu tư xây dựng và vận hành rất lớn cho vòng đời dự án hoạt động. Hơn thế nữa các dự án PPP hiện nay phải gánh chịu nguồn lãi vay cao từ tác động kinh tế, chưa có nguồn vốn vay phù hợp. Làm cho nhà đầu tư lo ngại về đầu tư lâu dài và thu hồi nguồn tiền. Để thu hút đầu tư nhiều dự án PPP thì Chính phủ Việt Nam cần có nhiều cơ chế ưu đãi khuyến khích về thuế và phí hơn để thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
12 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG 2. 3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài: 2.1 Mô hình hợp tác công tư PPP ở các nước trên thế giới Từ những năm 1980, mô hình đối tác công tư (PPP) đã trở thành công cụ quan trọng trong phát triển hạ tầng đô thị ở nhiều quốc gia trên thế giới. PPP cho phép kết hợp nguồn lực từ cả khu vực công và tư, giảm thiểu những rủi ro và rào cản, cũng như tăng hiệu quả cho các dự án.
Việc áp dụng mô hình này đã mang lại thành công trong một số trường hợp, nhưng cũng đối mặt với thất bại ở một số quốc gia.