MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nƣớc: Đồng hồ trung tâm trên ô tô đã và đang sử dụng nhiều năm qua. Hệ thống này ngày càng được cải thiến giúp người lái xe thuận tiện hơn, thoải mái hơn. Việc đánh giá hư hỏng khi xảy ra sự cố trên hệ thống này thường xuyên phải thực hiện tại các cơ sở dịch vụ sửa chữa.
Sản phẩm thực tế phục vụ công tác đào tạo sửa chữa hệ thống này tại các trường đã có nhưng phần lớn cũ kỹ và lạc hậu. Tính cấp thiết: Với mong muốn tạo tính trực quan học tập cho sinh viên trong quá trình học tập chuyên ngành tại khoa CKĐ- ĐHSPKT TPHCM, giúp sinh viên có nền tảng kiến thức vững chắc để từng bước tiếp cận các hệ thống thông tin tiên tiến hơn của nhiều hãng xe khác nhau 3. Mục tiêu: Góp phần nâng cao số lượng đồ dùng dạy học phục vụ công tác giảng dạy các môn học: thực tập động cơ 2, chẩn đoán trên xe, điện thân xe… 4. Cách tiếp cận: Tìm hiểu lý thuyết cấu tạo, chức năng hệ thống điện bộ phận đồng hồ trung tâm.
Quan sát, thao tác trên các thiết bị thực tế của hệ thống. Tìm phương án tối ưu cho việc thiết kế chế tạo mô hình. Trực tiếp thi công và khắc phục một số khó khăn. Phƣơng pháp nghiên cứu: Thu thập tài liệu.
Lựa chọn thông tin chính xác. Thi công tối ưu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Hệ thống thông tin hiển thị trên đồng hồ trung tâm ở phạm vi đồng hồ chỉ thị dạng kim và dạng số 7. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu lý thuyết hệ thống thông tin trên ô tô.
Thiết kế, thi công khung gá mô hình. Thi công hệ thống gá đặt các bộ phận cấu thành. Thiết kế, thi công hệ thống thông tin liên quan. Thi công mô hình hệ thống thông tin trên đồng hồ trung tâm Biên soạn thuyết minh, hoàn thành các đơn nguyên thực hành phục vụ công tác giảng dạy và học tập.
Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 6 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) Chƣơng1. TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN HIỂN THỊ TRÊN ĐỒNG HỒ TRUNG TÂM 1. Tổng quan về hệ thống thông tin trên ôtô. Hệ thống thông tin trên xe bao gồm: các bảng đồng hồ (tableau), màn hình và các đèn báo giúp tài xế và người sửa chữa biết thông tin về tình trạng hoạt động của các hệ thống chính trong xe.
Thông tin chỉ truyền đến tài xế qua hai dạng: tương tự (tableau kim) và số (tableau hiện số). Trên một số loại xe người ta cũng dùng tiếng nói để truyền thông tin đến tài xế. Đồng hồ tốc độ động cơ. Đồng hồ tốc độ xe.
Đồng hồ nhiệt độ nước. Đồng hồ báo nhiên liệu. Đồng hồ báo áp suất dầu. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 7 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) 1.
Đèn báo mức dầu phanh. Đèn báo thắt đai an toàn. Đèn báo cửa mở. Đèn báo mức nhiên liệu.
Đèn báo áp lực nhớt. Đèn báo lọc nhiên liệu bị bẩn 11. Cấu tạo bảng tableau loại analog. Đèn xi nhan và đèn khẩn cấp.
Đèn chỉ vị trí số (xe có hộp số tự động). Đèn chỉ thị chế độ pha. Đèn chỉ thị tắt số truyền tăng. Cấu tạo bảng tableau loại Digital.
Hành trình. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 8 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) Hình 1. Các loại đồng hồ chỉ thị bằng kim và các kí hiệu trên bảng đồng hồ. Cấu trúc tổng quát và phân loại hệ thống thông tin trên ôtô.
Cấu trúc tổng quát. Bao gồm các đồng hồ sau: 1. Đồng hồ tốc độ xe (Speedometer). Đồng hồ tốc độ xe dùng để hiển thị tốc độ xe chạy theo kilomet hoặc dặ m (mile).
Đồng hồ tốc độ thường được tích hợp với đồng hồ đo quãng đường (odometer) để báo quãng đường xe đã đi từ lúc xe bắt đầu hoạt động và đo hành trình (tripmeter) để đo khoảng cách ngắn giữa điểm đi và điểm đến. Đống hồ tốc độ động cơ. Hiển thị tốc độ động cơ (tốc độ trục khuỷu) theo v/p (vòng/phút) hay rpm. Đồng hồ nhiệt độ nước làm mát.
Chỉ thị nước làm mát động cơ. Đồng hồ báo nhiên liệu. Chỉ thị mức nhiên liệu có trong thùng chứa. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 9 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) 1.
Đèn báo áp suất nhớt thấp. Chỉ thị áp suất nhớt động cơ thấp dưới mức bình thường. Báo hệ thống nạp hoạt đông không bình thường (máy phát hư). Đèn báo pha, cos.
Báo đèn đầu ở chế độ chiếu xa, chiếu gần. Báo rẽ phải hay trái. Đèn báo nguy hoặc ưu tiên. Đèn này được bật khi muốn báo nguy hoặc xin ưu tiên.
Lúc này cả hai bên đèn rẽ phải và trái sẽ chớp. Đèn báo mức nhiên liệu thấp. Báo nhiên liệu trong thùng nhiên liệu sắp hết. Đèn báo hệ thống phanh tay.
Báo đang kéo phanh tay, dầu phanh không đủ hay bố phanh quá mòn. Đèn báo cửa mở. Báo có cửa chưa đóng chặt. Đèn báo lỗi của các hệ thống điều khiển.
Phanh chống hãm cứng ABS, hệ thống điều khiển động cơ CHECK ENGINE, hệ thống kiểm soát lực kéo TRC… 1. Đèn báo vị trí tay số của hộp số tự động. Hệ thống thông tin trên ô tô có hai dạng: 1. Thông tin dạng tương tự.
Thông tin dạng tương tự (Analog) trên ô tô thường hiển thị thông qua các loại đồng hồ chỉ báo bằng kim. Thông tin dạng số. Thông tin dạng số (Digital) sử dụng các tín hiệu từ các cảm biến khác nhau và tính toán dựa trên các tín hiệu này để xác định tốc độ xe, rồi hiển thị chúng ở dạng số hay c ác đồ thị dạng cột. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 10 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) 1.
Các yêu cầu của hệ thống thông tin trên ôtô. Do đặc thù trong hoạt động của ô tô, hệ thống thông tin trên ô tô ngoài yêu cầu có tính mỹ thuật phải đảm bảo: Độ bền cơ học. Chịu nhiệt độ cao. Chịu được độ ẩm.
Có độ chính xác cao. Không làm chói mắt tài xế. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 11 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) Chƣơng 2. THÔNG TIN DẠNG TƢƠNG TỰ Hệ thống thông tin dạng tương tự bao gồm các đồng hồ dạng kim và các đèn báo để kiểm tra và theo dõi hoạt động của các bộ phận quan trọng của động cơ cũng như toàn xe Hình 2.
Tableau dạng tương tự với chỉ thị bằng kim Trong hệ thống thông tin loại này thường có các đồng hồ dưới đây: 2. Đồng hồ và cảm biến báo áp suất dầu. Đồng hồ áp suất nhớt báo áp suất nhớt trong động cơ giúp phát hiện hư hỏng trong hệ thống bôi trơn. Đồng hồ áp suất nhớt thường là loại đồng hồ kiểu lưỡng kim.
Đồng hồ loại này thường gồm hai phần: cảm biến áp lực nhớt được lắp vào cacte của động cơ hoặc lắp ở lọc nhớt và đồng hồ (bộ phận chỉ thị) được bố trí ở bảng tableau trước mặt tài xế. Đồng hồ và cảm biến mắc nối tiếp với nhau và đấu vào mạch sau công tắc máy. Cảm biến chuyển sự thay đổi áp suất thành tín hiệu điện để đưa vào đồng hồ đo. Đồng hồ là bộ phận chỉ thị áp suất nhớt với các tín hiệu điện thay đổi từ cảm biến.
Thang 2 đo đồng hồ được phân độ theo đơn vị kg/cm hoặc bar. Trên các ô tô ngày nay, ta có thể gặp bốn loại áp suất dầu nhớt: Loại nhiệt điện, loại điện từ, loại cơ khí và loại điện tử. Ở đây ta chỉ giới thiệu hai loại đồng hồ là đồng hồ nhiệt điện và loại điện từ. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 12 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) 2.
Đồng hồ áp suất nhớt kiểu nhiệt điện. Sơ đồ cấu tạo đồng hồ áp suất nhớt kiểu nhiệt điện 2. Nguyên lý hoạt động. Khi cho dòng điện đi qua một phần tử lưỡng kim được chế tạo bằng cách liên kết hai loại kim loại hoặc hợp kim có hệ số giãn nở nhiệt khác nhau khiến phần tử lưỡng kim cong khi nhiệt tăng.
Đồng hồ bao gồm một phần tử lưỡng kim kết hợp với một dây may so (nung). Phần tử lưỡng kim có hình dạng như hình 2. Phần tử lưỡng kim bị cong do ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường không làm sai đồng hồ. Hoạt động của phần tử lưỡng kim Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 13 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) Áp suất nhớt thấp/không có áp suất nhớt: Phần tử lưỡng kim ở cảm biến áp suất nhớt có gắn thêm một tiếp điểm.
Độ dịch chuyển của kim đồng hồ tỉ lệ với dòng điện chay qua dây may so. Khi áp suất nhớt bằng không, tiếp điểm mở, không có dòng điện chạy qua khi bật công tắc máy. Vì vậy kim vẫn chỉ 0. Khi áp suất nhớt thấp, màng đẩy tiếp điểm làm nó tiếp xúc nhẹ, nên dòng điện chạy qua dây may so của cảm biến.
Vì lực tiếp xúc của tiếp điểm yếu, tiếp điểm sẽ lại mở ra do phần tử lưỡng kim bị uốn cong do nhiệt sinh ra. Tiếp điểm sẽ mở ra sau một thời gian rất ngắn có dòng điện chạy qua nên nhiệt độ của phần tử lưỡng kim trên đồng hồ không tăng và nó bị uốn ít. Vì vậy, kim sẽ lệch nhẹ. Hoạt động của đồng hồ nhiệt điện khi áp suất nhớt thấp/nhỏ.
Khi áp suất nhớt tăng, màng đẩy tiếp điểm mạnh hơn, nâng phần tử lưỡng kim lên. Vì vậy, dòng điện sẽ chạy qua lưỡng kim trong một thời gian dài. Tiếp điểm sẽ chỉ mở khi phần tử lưỡng kim uốn lên trên. Dòng điện chạy qua đồng hồ áp suất nhớt trong thời gian dài cho đến khi tiếp điểm của cảm biến áp suất nhớt mở.
Nhiệt độ phần tử lưỡng kim phía đồng hồ tăng làm tăng độ cong của nó, khiến kim đồng hồ lệch nhiều. Như vậy, độ cong của phần tử lưỡng kim trong đồng hồ tỉ lệ với độ cong của phần tử lưỡng kim trong cảm biến áp suất nhớt. Thi công mô hình hiển thị thông tin trên đồng hồ trung tâm Trang: 14 Luan van Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (T2013-71) Hình 2.