Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH ĐƠN LỚP TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỎ PHẦN 1. Khái quát về mô hình đơn lớp trong quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm quản trị công ty co phần Khái niệm quản trị công ty được vay mượn từ chữ “corporate governance”, một trào lưu nghiên cứu mới xuất hiện trong kinh tế học và luật học. Quản trị công ty được định nghĩa như một hệ thống mà thông qua đó, công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đàu tư, cùa người lao động trong công ty và những người điều hành công ty.
Governance có gốc tiếng Hy Lạp nghĩa là lèo lái. Người ta hình dung corporate - công ty như một con tàu cần phải được lèo lái đến bến bờ thành công với thuyền trưởng và đoàn thủy thủ là những người điều hành và người lao động trong công ty. Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông.) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Giám đốc điều hành và sự đóng góp của người lao động trong công ty mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Rõ ràng cần phải có một cơ chế điều hành và kiểm soát công ty để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát Hội đồng quản trị, kiểm soát việc điều hành công ty để mang lại hiệu quả cao nhất.
Neu so sánh công ty như một chiếc bánh thì quản trị công ty chính là cách thức để chiếc bánh đó trong tầm kiểm soát và ngày càng phát triển to hơn, chất lượng hơn. Tiêu chuẩn để đánh giá hệ thống quản trị công ty chính là việc tạo ra chiếc bánh to nhất có thể để sau đó phân bổ cho những người đầu tư nguyên liệu làm bánh và những người trực tiếp làm bánh [26, tr. Quản trị công ty đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các 8 nhóm lợi ích trong một công ty bao gôm cô đông, Hội đông quản trị, Giám đốc điều hành và các bên có lợi ích liên quan như người lao động, nhà cung cấp (đặc biệt là nhà cung cấp tài chính). Mục đích chính của quản trị công ty cần được xác định là để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và đề đảm bảo mối liên hệ giữa các nhóm lợi ích trong công ty.
Khi quản trị công ty tốt, giá trị của công ty sẽ tăng và như vậy sẽ có lợi trước hết cho nhà đầu tư, cố đông. Các quy định của quản trị công ty chủ yếu liên quan đến Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hằng ngày của công ty. Quản trị công ty tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của Giám đốc điều hành thề hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông và những người có lợi ích liên quan. Cần phân biệt rõ khái niệm quản trị công ty và quản trị kinh doanh.
Quản trị kinh doanh là điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp do Giám đốc điều hành và Ban giám đốc thực hiện. Quản trị công ty là một quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện đề bảo đảm cho việc thực thi quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cố đông. Quản trị công ty ở nghĩa rộng còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của những người liên quan (stakeholders) không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. Quản trị công ty được đặt trên cơ sở tách bạch giữa quản lý và sở hữu công ty.
Công ty là cùa chủ sở hữu (nhà đầu tư, cố đông.) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Giám đốc điều hành và sự đóng góp của người lao động mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Quản trị công ty tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh mối quan hệ ủy quyền (principle-agent) trong công ty, ngăn ngừa, hạn chế những người 9 quản lý lạm dụng quyên và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản, cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát. Tóm lại, quản trị công ty là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bộ phận có liên quan/cấu thành của công ty, nhằm vào sự phát triển dài hạn và bền vừng của công ty. Khái niệm “công ty cổ phần”: Công ty cổ phần là một trong năm loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 của Việt Nam.
Theo đó, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, do từ 03 cổ đông trở lên đăng ký thành lập, có tư cách pháp nhân và được quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn. Doanh nghiệp này có địa vị độc lập với các tổ chức, cá nhân khác trong việc tham gia vào quá trình kinh doanh, cạnh tranh và hoạt động trên thị trường. Ớ một góc độ khác, khái niệm công ty cổ phần được xem là đồng nghĩa với công ty đại chúng, bởi cấu trúc, tính chất và mục tiêu của nó (Điều 25 Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010). Quy định trong một số văn bản luật ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 03 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân.
Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty cố phần. Có quan điểm cho rằng: Xét ở góc độ toàn diện, quá trình quản lý, điều hành công ty cố phần bao gồm tất cả những ânh hưởng liên quan đến quá trình ra quyết định của công ty. Đó không chỉ bao gồm quyền kiểm soát cùa các cổ đông mà còn là những hợp đồng và quyền nộp đơn xin mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, những cam kết với người lao động, 10 các khách hàng và nhà cung ứng, các quy định của cơ quan nhà nước ban hành, những đạo luật do cơ quan nhà nước thông qua.
Ngoài ra, các quyết định của công ty còn chịu ánh hưởng lớn từ sự cạnh tranh ngoài thị trường nơi nó hoạt đông [3, tr. Đây có thể xem là một định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty cổ phần bao trùm hầu hết các mối quan hệ công ty. Có định nghĩa hẹp hon cho rằng: Quản trị công ty cổ phần được hiểu là các mối quan hệ giữa ban giám đốc, các cổ đông và những chủ thế khác có liên quan của công ty. Mối quan hệ này hình thành niên cấu trúc (qua nhiều quy tắc và động cơ) để đạt được các mục tiêu mà công ty đặt ra, cách thức để đạt được những mục tiêu đó và xác định cơ chế giám sát việc thực hiện [3.
9], Hoặc quản trị công ty cổ phần là việc tố chức bộ máy điều hành nội bộ công ty theo mô hình quản trị đơn lớp (one-tier) hoặc song lớp (two tier). Tuy niên, quan niệm này chỉ thích hợp với những nghiên cứu chuyên sâu về quản trị công ty cố phần, khi đã có kiến thức nhất định về các mô hình quản trị công ty. Thông qua các phân tích kể trên, theo quan điếm của tác giả quản trị công ty cổ phần được hiểu là một cơ chế nhàm điều hành và kiểm soát công ty theo đuổi những mục tiêu nhất định mà trong đó phân định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của các thiết chế như đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc điều hành, ban kiểm soát và các bên có quyền và lợi ích liên quan. Khái niệm và đặc điếm của mô hình đơn lớp trong quản trị công ty co phần 1.
Khái niệm mô hình đơn lóp trong quán trị công ty cổ phần Trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm học thuật chính thức về “mô 11 hình quản trị công ty” là gì? Tuy nhiên, thực tiên sử dụng cụm từ này cho thấy, mô hình quản trị công ty được hiểu là hình mẫu thực hiện quản trị công ty trong một tổ chức kinh tế nhất định, trong đó bao gồm cấu trúc các mối quan hệ trong công ty và nguyên tắc hoạt động của cấu trúc đó. Mô hình quản trị công ty thế hiện rõ sự phân chia và kiểm soát quyền lực trong một công ty, qua đỏ, đánh giá được mức độ đảm bảo lợi ích của công ty, của cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác [29, tr. 14], Cấu trúc các mối quan hệ trong công ty thường đề cập đến bao gồm bộ máy điều hành, kiểm soát công ty; cơ chế hình thành các vị trí trong bộ máy điều hành; cơ chế hoạt động cũng như giám sát lẫn nhau giữa các vị trí; cơ chế đảm bảo các quyền lợi của công ty, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan. Các cơ chế này thường được xây dựng dưới dạng các quy định về thủ tục, điều kiện liên quan đến quản lý các hoạt động năng lực hoặc các chế độ báo cáo khác nhau.
Trên thế giới hiện có hai mô hình quản trị công ty cổ phần, đó là mô hình cấu trúc hội đồng hay cap (dual board hay twotier board model) và hội đồng một cấp (unitary board hay one-tier board model). Việc tổ chức theo mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện thực tế, truyền thống và cơ chế pháp lý của từng quốc gia. Mô hình hội đồng hai cấp gồm có cấu trúc bộ máy quản trị - điều hành đặc biệt: bậc trên là Ban giám sát (supervisory board) và bậc dưới là Ban quàn lý (management board), trong đó các cổ đông và người lao động sẽ bầu chọn thành viên của Ban giám sát. Ngược lại, cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng đơn lớp (unitary board hay one-tier board model) gồm có Đại hội đồng cố đông và chỉ một HĐQT với sự tham gia của các thành viên HĐQT điều hành hoặc không điều hành, thực hiện chức năng quản trị các hoạt động của công ty.