CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔ HÌNH ĐẶC KHU KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC KHU KINH TẾ: 1. Lịch sử hình thành Đặc khu kinh tế trên thế giới: Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các Đặc khu kinh tế (ĐKKT) đã được hình thành từ xa xưa, bắt nguồn từ các khu mậu dịch tự do cổ đại tồn tại cách đây 2500 năm ở một số nước thịnh vượng như La Mã, Hy Lạp, Trung Quốc… Những khu này thường nằm ở các vùng biên giới hoặc những trung tâm buôn bán náo nhiệt nhất thế giới. Cùng với sự ra đời của ngành hàng hải và kèm theo đó là vận tải hàng hoá bằng đường biển, việc giao lưu buôn bán giữa các quốc gia ngày càng được tăng cường.
Năm 1228, một khu mậu dịch tự do đã được thành lập ở cảng Marseille miền Nam nước Pháp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào khu vực đặc biệt này, sau đó lại xuất đi các nước khác mà không phải nộp bất kỳ một khoản thuế nào. Đến cuối thế kỷ XV, một vài thành phố tự do ở miền Bắc nước Đức đã liên kết với nhau, thành lập liên minh mậu dịch tự do với tên gọi là Koln. Như vậy, có thể thấy rằng, sự hình thành các khu mậu dịch tự do và các hải cảng tự do đã xuất hiện ngay từ giai đoạn cuối của xã hội phong kiến. Thế kỷ XVI với sự ra đời của Chủ nghĩa tư bản đã tạo tiền đề vững chắc cho tương lai phát triển ngày càng mạnh mẽ của các hải cảng và khu mậu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com §ç TrÇn Minh Trang Kho¸ luËn tèt nghiÖp dịch tự do.
Cũng trong thời gian này, nền sản xuất hàng hoá bắt đầu hình thành và phát triển. Quá trình chuyên môn hoá gắn liền với việc linh hoạt khai thác các lợi thế trong phân công lao động quốc tế đã tạo nên sự cách biệt về mức độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Các nước có nền kinh tế kém phát triển tích cực áp dụng các biện pháp bảo hộ đối với nền sản xuất trong nước. Sự bảo hộ này đã thúc đẩy hoạt động tại các hải cảng tự do ngày càng mạnh mẽ hơn, bởi vì hàng hoá được trao đổi ở đây không phải chịu ảnh hưởng của bất kỳ biện pháp bảo hộ nào.
Chính vì vậy, những quốc gia chiếm ưu thế trong mậu dịch quốc tế như Hà Lan, Anh, Đức… đã biến một số hải cảng dọc bờ biển Châu Âu, Địa Trung Hải, Trung Đông, Đông Nam Á và một số cảng dọc bờ biển Caribê thành các thương cảng nổi tiếng thế giới, như Rotecdam, Liverpool, Hamburg, Ađen, Gibuti, Singapore, Hồng Kông, Ma Cao… Tuy nhiên, các hải cảng tự do và khu mậu dịch tự do chỉ thực sự phát triển và đóng vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế kể từ đầu thế kỷ XX. Năm 1934, những khu mậu dịch tự do đầu tiên của Mỹ đã được thành lập trên cơ sở “Luật về các khu mậu dịch tự do”. Đặc biệt, từ sau Đại chiến thế giới II, trên những tuyến đường vận chuyển hàng hoá quan trọng của thế giới đã xuất hiện một loạt những cảng tự do và các khu thương mại tự do mới, trong đó lớn nhất là khu mậu dịch tự do Côlônhơ - Panama ở Nam Mỹ. Không chỉ phát triển nhanh chóng về mặt số lượng, những khu vực buôn bán tự do này còn mở rộng cả hình thức hoạt động.
Bên cạnh các công việc thuần tuý về kinh doanh thương mại, trao đổi hàng hoá, tại các khu thương mại này đã xuất hiện các hoạt động kinh tế khác như gia công, lắp ráp. Sự phát triển của các khu mậu dịch tự do đã kéo theo sự ra đời một loạt các hình thức kinh doanh miễn thuế khác như kho ngoại quan, kho bảo thuế, cửa hàng miễn thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com §ç TrÇn Minh Trang Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, một loạt khu kinh tế tự do kiểu mới - khu gia công xuất khẩu bắt đầu xuất hiện. Năm 1959, Ireland đã xây dựng một ĐKKT tại sân bay quốc tế Shannon, đây chính là khu gia công xuất khẩu đầu tiên trên thế giới.
Năm 1965, một ĐKKT với tên gọi “Khu gia công xuất khẩu” đã được xây dựng tại thành phố Cao Hùng của Đài Loan. Kể từ đó, ĐKKT với hình thức là một khu gia công xuất khẩu đã lan rộng nhanh chóng ở các quốc gia và khu vực đang phát triển. Thành công của mô hình ĐKKT đã nhanh chóng được phát triển, phổ biến và áp dụng ở nhiều nước. Với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB), một loạt các ĐKKT đã được thành lập ở Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương, Trung và Nam Mỹ.
Nhìn một cách khái quát sự phát triển của ĐKKT trên thế giới, có thể thấy số lượng các ĐKKT ngày càng nhiều, tốc độ phát triển nhanh chóng, từ phạm vi Tây Âu đã lan ra khắp toàn cầu. Lúc đầu, chức năng của các ĐKKT chỉ là thương mại đơn thuần, sau phát triển thành hình thức kết hợp giữa công nghiệp và thương nghiệp. Lĩnh vực kinh doanh cũng chuyển từ trao đổi hàng hoá sang sản xuất hàng hoá, rồi mở rộng thành nghiên cứu chế tạo hàng hoá. Cơ cấu sản xuất cũng được điều chỉnh từ các ngành sử dụng nhiều sức lao động sang các ngành sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật và tri thức.
Xu thế chung là từ hình thái sơ cấp phát triển lên hình thái cao cấp. Trước Đại chiến thế giới II, có khoảng 26 nước và khu vực xây dựng 75 cảng tự do và khu mậu dịch tự do. ĐKKT lúc bấy giờ có chức năng tương đối đơn nhất, chủ yếu là phát triển ngoại thương thông qua các biện pháp miễn giảm thuế xuất nhập khẩu. Sau chiến tranh, ĐKKT mới thực sự bước vào giai đoạn phát triển hoàng kim của mình.
Đây là thời kỳ mà các khu gia công xuất khẩu rất thịnh hành. Đến cuối thập kỷ 70, tổng số ĐKKT trên thế giới đã tăng lên 328 khu. Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây, ĐKKT mang tính tổng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com §ç TrÇn Minh Trang Kho¸ luËn tèt nghiÖp hợp và quy mô lớn bắt đầu xuất hiện. Hình thức ĐKKT mới này đã phá vỡ mô hình cảng tự do và khu mậu dịch tự do truyền thống.
Nó không chỉ coi trọng công nghiệp gia công xuất khẩu và thương mại quốc tế, mà còn chú ý đến nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, đồng thời cũng tập trung mọi nguồn lực cho sự phát triển các ngành du lịch, bảo hiểm, tài chính, dịch vụ ăn uống, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, văn hoá giáo dục. Chính mô hình mới này đã thúc đẩy ĐKKT thế giới chuyển từ hình thức mậu dịch gia công xuất khẩu sang loại hình đa ngành công- nông- thương nghiệp. Hình thức tổng hợp của sự phát triển toàn diện ba ngành trên đã đi vào quỹ đạo phát triển của xã hội, làm cho tác dụng đa chức năng của nó được phát huy rộng hơn nữa. Cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, ở Mỹ đã xuất hiện một mô hình mới của ĐKKT: khu Công nghệ kỹ thuật cao.
Đặc điểm của mô hình ĐKKT này là tri thức, nhân tài, kỹ thuật được tập trung cao độ, và giáo dục, nghiên cứu khoa học, kinh doanh được nhất thể hoá. Đến thập niên 70, mô hình này đã được nhân rộng trên phạm vi toàn thế giới. Thập niên 80 là giai đoạn phát triển nhanh chóng, nhưng thập niên 90 mới là giai đoạn phát triển mạnh nhất. Cho đến nay, các khu kinh tế mở kỹ thuật cao tương đối thành công trên thế giới đã vượt qua con số 400.
Trong hơn 10 năm trở lại đây, ĐKKT phát triển nhanh chóng, tính đến nay đã có khoảng hơn 700 ĐKKT, tăng gấp đôi so với 10 năm trước đó. Theo thống kê, tỷ lệ giữa tổng kim ngạch mậu dịch của các ĐKKT trên thế giới với tổng kim ngạch trong buôn bán quốc tế là 7,7% (năm 1979), đến năm 1985 đã tăng lên đến 20%, năm 1990 tăng vọt lên 33%, và đến năm 1994 đã đạt 35%. Tổng kim ngạch mậu dịch của các ĐKKT trên thế giới đạt hơn 1000 tỷ USD. Những con số trên đã phản ánh sự phát triển thần kỳ được tạo nên từ mô hình Đặc Khu Kinh Tế – sản phẩm của nền kinh tế thế kỷ XX.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com §ç TrÇn Minh Trang Kho¸ luËn tèt nghiÖp 2. Khái niệm về Đặc khu kinh tế: Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về ĐKKT. Xét theo nghĩa rộng, tất cả các vùng địa lý nhất định do một quốc gia hoặc một khu vực xác lập trong phạm vi của mình và ở đó thi hành các chính sách kinh tế đặc biệt đều có thể gọi là ĐKKT. Song nếu xét theo nghĩa hẹp, ĐKKT là một khu vực địa lý riêng biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ tiên tiến, kỹ thuật quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ của nền kinh tế quốc dân, gồm: công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, du lịch, dịch vụ…, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu, nhưng cũng không bỏ qua thị trường nội địa, mục đích là làm cho kinh tế của khu vực đó và các vùng lân cận trở nên phồn thịnh, tăng thu nhập và tăng thu ngoại tệ.
Chính vì vậy, xây dựng ĐKKT là chính sách quan trọng của một quốc gia khi thực hiện chính sách mở cửa hướng ra bên ngoài và khuyến khích mở rộng xuất khẩu. Tính chất tổ chức cao của ĐKKT còn được thể hiện qua mô hình “khu trong khu”, nghĩa là trong ĐKKT bao gồm tổng hợp các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do như Khu thương mại tự do, Cảng tự do, Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu chứa hàng miễn thuế. Với cách tổ chức như vậy, sự liên kết hoàn chỉnh giữa các loại hình này đã tạo nên một bức tranh tổng thể thống nhất, thúc đẩy sự phát triển của ĐKKT. Theo quan điểm của Trung Quốc, ĐKKT là một khu vực địa lý được ngăn cách với bên ngoài bởi hai hàng rào quản lý: hàng rào thứ nhất để quản lý quan hệ giữa ĐKKT với thị trường thế giới, hàng rào thứ hai là hàng rào ngăn cách ĐKKT với thị trường nội địa thông qua sự kiểm soát chặt chẽ của lực lượng hải quan.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.