CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON 1.1 Mô hình công ty mẹ – công ty con 1.1 Khái niệm “Công ty mẹ – công ty con” là cách gọi được chuyển ngữ từ Tiếng Anh “Holding company” và “Subsidiaries” sang tiếng Việt. Holding company là công ty nắm vốn, Subsidiaries company là công ty nhận vốn. Từ “mẹ – con” là cách gọi ở Việt Nam. Thực chất, công ty mẹ là nhà tài phiệt, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con là sự chi phối của nhà tài phiệt vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty con nhờ vốn của nhà tài phiệt tại các Tổng công ty đó.
Nhà tài phiệt này khác các cổ đông thông thường ở chỗ, do có nhiều vốn nên có thể cùng lúc là cổ đông của nhiều công ty. Vì là cổ đông của nhiều công ty, hơn thế nữa là cổ đông chi phối hoặc đặc biệt, nên nhà tài phiệt có thể tác động đặc biệt đối với hoạt động của các công ty con. Tính chất đặc biệt này thể hiện trước hết ở sự chi phối lớn do tỷ trọng vốn lớn trong các công ty con. Thứ đến là khả năng tác động toàn diện của công ty mẹ vào các công ty con do cùng lúc có vốn tại nhiều công ty con nên có tầm nhìn bao quát toàn ngành, toàn thị trường, biết chỗ yếu, chỗ mạnh của nhiều công ty để có hành vi tác động chính xác tại mỗi công ty con cụ thể.
Công ty mẹ có thể là một công ty hoạt động tài chính thuần tuý (chuyên dùng vốn để mua cổ phần 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại các công ty con), cũng có thể là một công ty vừa hoạt động tài chính, vừa trực tiếp sản xuất-kinh doanh. Việc hình thành công ty mẹ, công ty con sẽ dẫn đến hình thành Tập đoàn kinh tế. Trong một TĐKT có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập đoàn kinh tế được gọi là Holding company ở Anh, là Tập đoàn (Corporation) ở Mỹ, Nhật Bản là Keiretsu hay Zaibatsu, Hàn Quốc là Chaebol, Trung Quốc là các Tập đoàn xí nghiệp,… Ở Việt Nam, Quyết định 91 ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ gọi là Tập đoàn kinh doanh.
Theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 3 – Khoá IX về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN đưa ra mô hình công ty mẹ – công ty con (công ty mẹ – công ty con). Khi nói đến công ty mẹ – công ty con là nhấn mạnh sự chi phối hoặc lệ thuộc chủ yếu về mặt tài chính của một doanh nghiệp với một DN khác thay cho mối quan hệ hành chính không hiệu quả ở các Tổng công ty Nhà nươc hiện nay. Đến nay, có nhiều định nghĩa về mô hình công ty mẹ – công ty con: - Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Acounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc - gọi là công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ.
Kiểm soát ở đây được hiểu là: sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiều bầu theo sự thoả thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của các công ty và được quy định tại điều lệ, theo sự thoả thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của HĐQT, ban 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp HĐQT, ban lãnh đạo. - Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy nhiên, theo từ điển chính thức năm 1989 để phù hợp với “Hướng dẫn chính thức lần thứ 7 về Luật công ty (Seven Company Law Directive) của Cộng đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B; (3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh doanh của B bằng sự thoả thuận chính thức, hợp đồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi tham gia điều hành (participating interest - được hiều là nắm giữ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất. Ngoài ra, nếu giữa B và C có quan hệ tương tự như A và B thì giữa A và C có quan hệ như mô hình trên (công ty mẹ – công ty con).
Định nghĩa cụ thể là: Công ty mẹ – công ty con là hình thức tổ chức tổ chức sản xuất kinh doanh được liên kết bởi nhiều pháp nhân kinh doanh, nhằm thống nhất mục tiêu chiến lược hợp nhất những nguồn lực của các doanh nghiệp, đồng thời thực hiện sự phân công, hợp tác theo chiến lược dài hạn hoặc kế hoạch ngắn hạn trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Công ty mẹ giữ vai trò trung tâm đầu tư vốn vào các công ty con, theo đó, chi phối các công ty con theo nhiều cấp độ, tuỳ theo tỷ lệ vốn đầu tư vào công ty đó. Mức đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con có thể là 100% vốn, giữ cổ phần chi phối, hoặc cổ phần không chi phối. Các doanh nghiệp là công ty con tham 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia mô hình này đều là những pháp nhân đầy đủ, được liên kết công ty mẹ theo những mức độ khác nhau: chặt chẽ, nửa chặt chẽ và không chặt chẽ.
Định nghĩa trên có ý nghĩa khái quát cao, đã phản ánh đầy đủ các đặc điểm chung: Công ty mẹ và công ty con đều là các doanh nghiệp độc lập, có tư cách pháp nhân, có vốn và tài sản riêng; Công ty mẹ là một trong các chủ sở hữu của công ty con; Công ty mẹ có thể có một hoặc nhiều công ty con. Công ty con là công ty có vốn đầu tư của công ty mẹ, bị công ty mẹ chi phối bằng việc nắm giữ trên 50% vốn cổ phần và do đó có quyền biểu quyết trong Hội đồng quản trị. Những công ty mặc dù có vốn của công ty mẹ nhưng công ty mẹ không nắm quyền chi phối thì không phải là công ty con. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được xác định theo quy định pháp luật và điều lệ công ty, nó tương đối ổn định song việc hình thành công ty mẹ – công ty con lại rất linh hoạt.
Một công ty hôm nay là công ty con song ngày mai có thể chỉ là công ty liên kết hoặc hoàn toàn độc lập nếu công ty mẹ bán một phần hoặc toàn bộ cổ phần của công ty con đó cho một công ty khác. Ngược lại, một công ty có thể trở thành công ty mẹ của công ty khác nếu nó mua lại được số cổ phần đủ để chi phối công ty đó. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con là mối quan hệ của chủ sở hữu với doanh nghiệp có vốn đầu tư của mình. Ngoài mối quan hệ chủ sở hữu thì các mối quan hệ khác về kinh tế như mua – bán, thuê - cho thuê, vay – cho vay đều là mối quan hệ giữa hai pháp nhân đầy đủ và thể hiện thông qua hợp đồng kinh tế.
Tóm lại, mô hình công ty mẹ – công ty con là mô hình tổ chức sản xuất thể hiện sự kết hợp hài hoà các loại hình doanh nghiệp trên cơ sở quyền sở hữu được phân tách rõ ràng. Với nhiều loại hình DN, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, việc huy động vốn giữa các thành phần kinh tế được thuận lợi, quá trình tích tụ và tập trung vốn được đẩy nhanh. Các doanh nghiệp thành viên trong mô hình có mức độ tự chủ cao, tự thân hoạt động theo thị trường miễn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sao đạt được lợi nhuận cao nhất. Mô hình này cho phép huy động tối đa nguồn lực xã hội đầu tư vào sản xuất - kinh doanh mà quyền sở hữu điều tiết của Nhà nước vẫn được đảm bảo.
Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang được trao đổi sôi nổi, việc mô hình hoá các công ty của Việt Nam cũng mang ý nghĩa mới này.2 Các hình thức tổ chức mô hình công ty mẹ – công ty con Mối liên kết giữa công ty mẹ và công ty con rất phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh, vào sức mạnh và khả năng chi phối của công ty mẹ, có 3 dạng liên kết sau: - Mô hình liên kết bằng vốn được áp dụng với những công ty mẹ có khả năng tiềm lực tài chính to lớn (thường là các ngân hàng hoặc công ty tài chính), được hình thành thông qua con đường nhất thể hoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập hoặc xoá bỏ tư cách pháp nhân của một số doanh nghiệp. Qua việc nắm giữ các cổ phần chi phối, thuê mướn các doanh nghiệp có liên quan. Công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh đạo các doanh nghiệp này trong việc đua ra các quyết sách về nhân, tài, vật lực, biến chúng thành các công ty con. Khi đó công ty mẹ với tư cách thực hiện quyền chủ sở hữu quyết định về cơ cấu tổ chức quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh chủ yếu; quyết định điều chỉnh vốn điều lệ; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho công ty khác; quyết định dự án đầu tư theo quy định của Nhà nước, lập báo cáo tài chính của công ty mẹ; quyết định việc sử dụng lợi nhuận của công ty con,… Tuy nhiên, công ty con vẫn là một pháp nhân độc lập, tiến hành các hoạt động kinh doanh độc lập tương đối.