PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia đang có tốc độ già hóa một cách nhanh chóng, do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm. Khuynh hƣớng nhân khẩu học này là một trong những thành tựu to lớn đối với Việt Nam, liên quan tới những cải thiện đáng kể về y tế, dinh dƣỡng và phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, già hóa dân số một cách nhanh chóng cũng tạo ra những thách thức lớn đối với Việt Nam.
“Theo kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình của tổng cục thống kê (2016) thì tỉ lệ ngƣời cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam tăng từ 7,1% năm 1989 lên 8,0% năm 1999, 8,7% năm 2009, 10,2% năm 2014, 11,3% năm 2015 và đạt đến 11,9% vào năm 2016. Tuổi thọ trung bình của dân số ngày càng cao đã làm tỷ trọng ngƣời từ 65 tuổi trở lên tăng từ 4,7% năm 1989 lên 5,8% năm 1999, 6,4% năm 2009, 7,1% năm 2014, 7,6% năm 2015 và 8,0% năm 2016. Chỉ số già hoá (tính bằng tỷ số giữa tỷ lệ ngƣời cao tuổi với tỷ lệ trẻ em) đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999, 35,5% năm 2009, 43,3% năm 2014, 47,1% năm 2015 và 50,1% năm 2016. Điều đó cho thấy xu hƣớng già hoá dân số ở nƣớc ta diễn ra khá nhanh trong hơn ba thập kỷ qua.
Tuổi thọ trung bình tăng và mức sinh giảm chính là yếu tố dẫn đến sự già đi của dân số. Dự báo cho thấy già hóa ở nƣớc ta tiếp tục tăng rất nhanh trong thời gian tới và sẽ trở thành vấn đề lớn nếu Việt Nam không chuẩn bị trƣớc một hệ thống an sinh xã hội thật tốt dành cho ngƣời già thông qua cải cách hệ thống bảo trợ xã hội, mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm hƣu trí, bảo hiểm y tế và khuyến khích các đơn vị sử dụng lao động tạo việc làm và môi trƣờng việc làm phù hợp với năng lực và sức khỏe ngƣời cao tuổi” [14: 30]. Nhƣ vậy, cùng với việc gia tăng dân số già, bên cạnh những ƣu điểm, nhiều thách thức đặt ra đối với Đảng, Nhà nƣớc và xã hội trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của ngƣời cao tuổi. Trong bối cảnh này, một trong những vấn đề hiện nay đang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 đƣợc quan tâm trong xã hội là có những mô hình, dịch vụ nào để chăm sóc, hỗ trợ cho ngƣời cao tuổi một cách hiệu quả nhất để ngƣời cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích.
Trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc ta có rất nhiều mô hình khác nhau đƣợc thành lập và nhân rộng nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời cao tuổi. Tại Việt Nam, hiện nay có rất nhiều mô hình chăm sóc, hỗ trợ ngƣời cao tuổi khác nhau nhƣ: Mô hình tƣ vấn và chăm sóc ngƣời cao tuổi dựa vào cộng đồng, Mô hình bệnh viện lão khoa và thành lập khoa lão khoa tại các bệnh viện, Mô hình câu lạc bộ của ngƣời cao tuổi, Trung tâm bảo trợ xã hội, viện dƣỡng lão tƣ nhân, nhà chùa, mái ấm…Với một đất nƣớc đang phát triển còn nhiều khó khăn nhƣ Việt Nam thì việc chăm sóc NCT là một thách thức lớn, cần có sự tham gia hỗ trợ, liên kết của các nhóm, tổ chức, trung tâm khác. Tiêu biểu là sự tham gia của tôn giáo (nhất là Phật giáo) vào hỗ trợ chăm sóc NCT sẽ mang lại những hiệu quả nhất định. Trong đó, điểm đặc trƣng, riêng biệt của mô hình chăm sóc, nuôi dƣỡng ngƣời cao tuổi tại chùa có nét riêng biệt so với các mô hình chăm sóc ngƣời cao tuổi khác bởi mô hình này mang đậm tƣ tƣởng triết lý của Phật giáo.
Mô hình đƣợc thành lập và phát triển cũng chính là biểu hiện cụ thể nhất của những ảnh hƣởng của triết lý Phật giáo đến đời sống ngƣời dân Việt Nam. “Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí và phóng sinh đã ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng. Đến ngày rằm và mùng một, ngƣời Việt Nam thƣờng hay mua chim, cá, rùa … để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sinh. Ngƣời Việt cũng thích làm phƣớc bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạn nạn, vào các ngày lễ lớn họ tập trung về chùa.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức này càng bị thu hẹp. Thay vào đó mọi ngƣời tham gia vào những đợt cứu trợ, tƣơng tế cho các đồng bào gặp thiên tai, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hoạn nạn, hoàn cảnh sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc Lá lành đùm lá rách”[23: 43]. Đặc biệt là mô hình mang đậm tƣ tƣởng triết lý Phật giáo này với những hoạt động từ thiện xã hội cũng mang đậm tính công tác xã hội. Mục đích của CTXH là hỗ trợ, giúp đỡ những đối tƣợng yếu thế trong xã hội.
Mà CTXH tuy vẫn đang phát triển ở nƣớc ta song vẫn là một nghành mới, cần phải quan tâm, kết hợp, dung hòa với nền văn hóa, truyền thống đạo lý, lối sống của nhân dân Việt Nam để phát triển. Đây cũng là hƣớng tiếp cận mới của ngành CTXH ở Việt Nam: Công tác xã hội Phật giáo. Điều đó khiến tôi quan tâm tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, cách kết nối nguồn lực, tổ chức hoạt động và hiệu quả của mô hình đặc trƣng này. Để từ đó có thể đƣa ra những giải pháp góp phần phát triển mô hình CTXH Phật giáo này nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho NCT.
Chính bởi lẽ đó, tôi chọn đề tài: “Mô hình chăm sóc ngƣời cao tuổi tại chùa Linh Sơn, Phƣờng Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội”. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Công tác xã hội là một nghành mới, đang phát triển của Việt Nam đƣợc Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ xã hội quan tâm, tạo điều kiện để phát triển. Trong đó những đặc trƣng của hoạt động CTXH lại có nhiều điểm tƣơng đồng với những tƣ tƣởng, triết lý và hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo, điều này thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc. Các tác giả quan tâm nghiên cứu, phân tích, chỉ ra những hoạt động từ thiện xã hội mà các ngôi chùa đã thực hiện để trợ giúp cho các đối tƣợng yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT.
Có những tác giả lại quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và CTXH, từ đó tìm ra hƣớng đi mới, thúc đẩy sự phát triển của Công tác xã hội và Phật giáo. Dƣới đây là một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam mà tác giả đã tìm hiểu đƣợc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cácnghiên cứu trên thế giới Trong tác phẩm “Địa vị của Phật giáo Thái Lan hiện nay” của tác giả Lê Thanh Hƣơng đã dành một phần để nói lên vai trò của Phật giáo đối với các vấn đề xã hội ở Thái Lan.
Trong bài tác giả có nêu: Phật giáo Thái Lan là Phật giáo nhập thế. Chùa ở Thái Lan không chỉ là trung tâm tín ngƣỡng mà còn đƣợc coi là trung tâm hoạt động xã hội của địa phƣơng. Đất nƣớc Thái Lan đạt đƣợc sự thống nhất, thanh bình và thịnh vƣợng cũng là nhờ đóng góp của Phật giáo. Trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa ngày nay, các thành viên Tăng đoàn có những đóng góp to lớn cho xã hội cả về mặt phát triển vật chất lẫn đời sống tinh thần lành mạnh.
Hoạt động của họ bao quá nhiều lĩnh vực, tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội, nhƣ bảo vệ môi trƣờng, vì sự tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới; từ thiện, phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo,… và hơn cả là giáo dục và chống HIV/AIDS, giúp đỡ ngƣời có HIV/AIDS. Theo những sáng kiến và sự ủng hộ của các thành viên Tăng đoàn, nhiều làng mạc ở vùng sâu vùng xa đã có đƣờng sá giúp giao thông thuận tiện, đƣợc hƣởng nƣớc sạch nhờ những giếng nƣớc mới, những làng mạc từ lâu bị lãng quên đã có điện thắp sáng. Các thành viên Tăng đoàn cũng giúp giải quyết êm thấm nhiều vấn đề nội bộ gia đình. Một số tu viện tổ chức những trung tâm chữa trị cho ngƣời nghiện ma túy, những nhà từ thiện chăm sóc ngƣời già và những bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn cuối.
Đặc biệt, tác giả có phân tích cụ thể thực trạng , vai trò của Phật giáo ở 2 vấn đề: thứ nhất là vai trò giáo dục của Phật giáo Thái Lan. Thứ 2 là vai trò ngăn ngừa HIV/ AIDS và giúp đỡ ngƣời bị HIV/ AIDS. Nhƣ vậy, bài viết này của tác giả đã nêu lên đƣợc vai trò của Phật giáo Thái Lan thông qua rất nhiều hoạt động cụ thể trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội Thái Lan. Tuy nhiên, tác giả chƣa quan tâm, phân tích cụ thể chuyên sâu về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho ngƣời cao tuổi của Phật giáo Thái Lan[11].
Nghiên cứu “Đóng góp của Phật giáo vào phúc lợi xã hội ở Úc” của tác giả Patricia Sherwood (Phân khoa Nhân loại học xã hội, Đại học Edith Cowan) do Nguyên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Hiệp dịch. Bài viết này phác thảo những kết quả nghiên cứu đƣợc thực hiện vào năm 2000 về những đóng góp của các tổ chức Phật giáo vào phúc lợi xã hội ở Úc. Tác giả đã chọn lựa và tập trung vào lĩnh vực giáo dục và phúc lợi xã hội. Theo tác giả, đóng góp phúc lợi xã hội của Phật giáo ở Úc là bao quát và có thể đƣợc phân thành chín lĩnh vực sau: Thứ nhất là Giáo dục cộng đồng cho ngƣời lớn, thứ hai là Giáo dục trẻ em, thứ 3 là Làm việc với bệnh nhân ở các bệnh viện, thứ tƣ là Làm việc với bệnh nhân và ngƣời sắp qua đời ở trong cộng đồng và chăm sóc bệnh nhân nan y, thứ 5 là Thăm hỏi tù nhân, thứ 6 là Làm việc với ngƣời nghiện ma tuý, thứ 7 là Gây quỹ cho ngƣời nghèo khó (cả ở Úc và hải ngoại), thứ 8 là Diễn thuyết về nhân quyền và chống áp bức, thứ 9 là Những hoạt động từ bi dành cho những loài sống ngoài con ngƣời.