phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn của tôi đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ L THU ẾT VÀ Đ A BÀN NGHI N CỨU Chƣơng 2: PHÁT TRIỂN C NG NGHIỆP, THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MÂU THUẪN Ở TH N HẠ Chƣơng 3 THU HỒI ĐẤT N NG NGHIỆP DƢỚI LĂNG KÍNH CỦA NHÀ NƢỚC VÀ NGƢỜI N NG DÂN 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ L THU ẾT VÀ Đ A BÀN NGHI N CỨU 1. Tổng qu n tài li u nghiên cứu 1. S ị Đất đai là một phạm trù kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng, do đó đặc biệt nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Vậy vấn đề đất đai đã đƣợc để cập trong những công trình nghiên cứu nào, dƣới những chiều cạnh nào, còn khoảng trống nào chƣa đƣợc nghiên cứu? Đó là những câu hỏi tôi muốn làm rõ trong Chƣơng 1 của luận văn nhằm làm cơ sở cho hƣớng nghiên cứu mới của tôi về vấn đề này.
Lịch sử chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam đƣợc đề cập trong nhiều công trình ví dụ nhƣ của các tác giả Hoàng Việt, ro Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Nguyễn Văn Sửu, ổ í ừ t Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Những công trình này cho thấy chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam thay đổi theo một quá trình lịch sử, từ những thế kỉ trƣớc khi Pháp xâm lƣợc, trong thời kỳ Pháp thuộc, cho đến chế độ sở hữu Việt Nam đƣơng đại. Theo tác giả Nguyễn Văn Sửu trong cuốn sách ổ í : ừ chế độ sở hữu đất đai Việt Nam 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣơng đại đƣợc xác lập với 2 lớp sở hữu: lớp sở hữu tối cao và lớp sở hữu thực và 3 loại quyền: quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng. Nhìn theo khung phân tích này, chúng ta có thể nhận thấy, từ những năm 1980, Nhà nƣớc nắm vai trò quyết định trong vấn đề sở hữu, quản lý, và thậm chí cả vấn đề sử dụng đất đai ở Việt Nam.
Đất đai do Nhà nƣớc quản lý và sở hữu dƣới danh nghĩa toàn dân. Nhà nƣớc giao quyền sử dụng đất cho ngƣời dân và các thực thể khác trong một thời hạn nhất định. Bằng cách đó, Nhà nƣớc có thể củng cố và đảm bảo quyền lực của mình đối với vấn đề sở hữu và quản lý đất đai.1 Lớp sở hữu, quyền và thực thể nắm quyền đất đai từ năm 1988 Lớp sở h u Qu ền Th c thể nắm qu ền Lớp sở hữu tối cao Quyền sở hữu Toàn dân Quyền quản lý Nhà nƣớc Lớp sở hữu thực Quyền sử dụng Cá nhân, hộ gia đình, tổ chức Nguồn: Dẫn theo [77; tr 62] Theo Luật đất đai sửa đổi 2003,2 đất đƣợc chia thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chƣa sử dụng. Trong đó, quyền sử dụng đất nông nghiệp đƣợc giao nhƣ sau: - Chủ thể đƣợc giao quyền sử dụng đất gồm 7 nhóm: các tổ chức trong nƣớc; hộ gia đình và cá nhân trong nƣớc; cộng đồng dân cƣ; các cơ sở 2 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đã có điều chỉnh ở nhiều điểm so với Luật Đất đai năm 2003 mà tôi chƣa có điều kiện cập nhật ở đây một phần vì những mâu thuẫn này diễn ra trong khi Nhà nƣớc áp dụng Luật Đất đai năm 2003 chứ không phải Luật Đất đai năm 2013.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tôn giáo; các tổ chức nƣớc ngoài có chức năng ngoại giao; Việt Kiều; và các tổ chức, cá nhân, nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam. - Thời hạn nắm giao quyền sử dụng đất: 20 năm đối với đất trồng cây hàng năm và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm. - Hạn điền: 3ha/chủ sở hữu quyền sử dụng đất với đất trồng cây hàng năm; 10ha/chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với đất trồng cây lâu năm. - Các quyền kèm theo quyền sử dụng đất: quyền chuyển nhƣợng, quyền đổi, cho thuê; thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất, tặng quyền sử dụng đất; sử dụng quyền sử dụng đất để bảo lãnh; sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn, quyền đƣợc đền bù khi quyền sử dụng đất bị thu hồi.
Liên quan đến chế độ sở hữu đất đai Việt Nam đƣơng đại, dù Nhà nƣớc đã có những quy định pháp luật rõ nhƣ trên, các nhà khoa học vẫn cho thấy còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về luật pháp đất đai để việc xác lập quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai sát với thực tiễn, đảm bảo tính công bằng và tránh đƣợc tình trạng mâu thuẫn nảy sinh. Bởi lẽ, theo tác giả Nguyễn Văn Sửu, đối với nhiều ngƣời nông dân Việt Nam, quyền sử dụng đất nông nghiệp có giá trị và ý nghĩa quan trọng vì nó là một dạng tƣ liệu sản xuất, một nguồn sinh kế và là một loại tài sản có giá trị. Với nhiều hộ gia đình nông dân, dù đã tiếp cận các hoạt động sinh kế phi nông nghiệp, đất nông nghiệp vẫn có ý nghĩa quan trọng là tƣ liệu sản xuất đảm bảo một phần sinh tồn của gia đình họ đồng thời đó còn là một dạng tài sản có giá trị vì từ lâu ngƣời ta coi tấc đất tấc vàng. Hơn nữa giá trị kinh tế, chính trị, xã hội của đất sẽ tăng lên khi nó trở nên khan hiếm hoặc không có các nguồn sinh kế khác thay thế cho ngƣời dân.
[77; tr 82] Từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Văn Sửu cho rằng Luật đất đai cần xem xét và coi trọng quyền tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất. Vì, Luật đất 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đai của Việt Nam từ khi đổi mới đã coi quyền sử dụng đất là một loại tài sản đƣợc Nhà nƣớc giao cho, hay cho thuê với những điều kiện nhất định nhƣng mức độ công nhận quyền sử dụng đất nhƣ một dạng tài sản cá nhân hay coi việc nắm giữ quyền sử dụng đất nhƣ một hình thức sở hữu quyền sử dụng đất còn chƣa đƣợc xác định ở mức độ cần thiết để chính sách đất đai có thể vận hành trong thực tiễn theo mô hình một nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và theo cơ chế và các quy luật của thị trƣờng mà Việt Nam đang hƣớng đến. [77; tr 87] T ồ Từ thực tế Luật đất đai chƣa chú ý đúng mức đến vấn đề tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất nông nghiệp, bất cập và mâu thuẫn đã nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở một số địa bàn cụ thể trong những năm vừa qua. Luật đất đai quy định Nhà nƣớc giao quyền sử dụng đất nông nghiệp và đất thổ cƣ cho cá thể, hộ gia đình và các tổ chức, vì thế, Nhà nƣớc có quyền thu hồi quyền sử dụng đất ấy với một giá đền bù do Nhà nƣớc quy định.
Nhƣ thế, ngƣời nắm quyền sử dụng đất ít có tiếng nói trong vấn đề quyết định giá cả và các quyền lợi kinh tế khác trong quá trình thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nhà nƣớc là thực thể hoàn toàn quyết định: định đoạt kế hoạch, diện tích thu hồi, giá đền bù và các khoản hỗ trợ kinh tế khác. Ngƣời dân nắm quyền sử dụng phải tuân thủ chính sách của Nhà nƣớc.[77; tr 87] Phải đến luật đất đai sửa đổi năm 2003, nhất là Nghị định về thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất ban hành năm 2004 mới có sự phân biệt rõ rệt hơn giữa hai loại hình thu hồi quyền sử dụng đất: Thứ nhất là loại thu hồi quyền sử dụng đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng và quốc gia, thì Nhà nƣớc quyết định việc thu hồi và trực 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp thực hiện việc thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất để phục vụ các mục đích của Nhà nƣớc và tập thể. Trong loại hình thu hồi này, chính quyền Nhà nƣớc hầu nhƣ thực thể hoàn toàn quyết định diện tích thu hồi, giá đền bù và các khoản hỗ trợ kinh tế khác cho ngƣời bị thu hồi.
Thứ hai là loại thu hồi quyền sử dụng đất để phục vụ mục đích phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp tƣ nhân hay các mục đích cá thể khác. Trong trƣờng hợp này, chính quyền Nhà nƣớc vẫn là thực thể ra quyết định thu hồi đất và quyết định giá đền bù quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc thu hồi và đền bù chỉ đƣợc thực hiện khi các doanh nghiệp và tổ chức muốn sử dụng quyền sử dụng đất đã đạt đƣợc một thỏa thuận với ngƣời nắm giữ quyền sử dụng đất về giá đền bù và các khoản hỗ trợ khác. [63; tr 88] Nhƣ vậy, thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp thuộc loại hình thu hồi thứ hai đồng nghĩa với việc khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, Nhà nƣớc phải chú ý đúng mức đến vấn đề tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất, nâng cao tiếng nói của ngƣời dân trong việc quyết định kế hoạch thu hồi, diện tích thu hồi, giá thu hồi và các khoản hỗ trợ kinh tế khác.
Điều đáng nói là trong hầu hết các trƣờng hợp, dù là thuộc hình thức thu hồi và đền bù nào, giá đền bù cho quyền sử dụng đất bị nhiều chủ thể nắm giữ quyền sử dụng đất nông nghiệp cho là không tƣơng xứng với giá trị thực của nó có trên thị trƣờng và việc thu hồi, đền bù quyền sử dụng đất thƣờng gắn với tham nhũng cũng nhƣ những sai phạm khác. Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay đang cùng một lúc tồn tại hai loại giá về quyền sử dụng đất: một loại giá đƣợc định đoạt bởi các quy luật trao đổi của thị trƣờng và một loại giá đƣợc quy định bởi Nhà nƣớc, giống nhƣ những gì từng tồn tại (từng bị phê phán mạnh mẽ) đối với các mặt hàng thiết yếu thời kỳ bao cấp. [63; tr 89] 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những phân tích và tổng quan nêu trên cho thấy một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn đất đai.
Đây là một vấn đề nóng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở nƣớc ta hiện nay và đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dƣới nhiều góc độ xã hội học, chính trị học, luật học, nhân học, kinh tế học.