Chương 1.1 Tổng quan về Trà hoa vàng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo 1.1 Điều kiện tự nhiên và đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Tam Đảo Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo có vị trí địa lý nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, từ 21 độ 21' đến 21 độ 42' vĩ Bắc và 105 độ 23' đến 105 độ 44' kinh Đông, nằm trên địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang, chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn dốc, độ chia cắt sâu và dầy, tạo nên các dạng địa hình khác biệt. Khí hậu VQG Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới, hai sườn đông tây ngăn cách cùng với sự thay đổi về lượng mưa hàng năm đã tạo nên sự đa dạng về các tiểu vùng khí hậu cho khu vực này. Phong phú về dạng địa hình, chia vùng khí hậu và đa dạng về mặt thổ nhưỡng là nguyên nhân chính đã tạo ra sự đa dạng về các hệ sinh thái rừng, các quần xã sinh học và đa dạng về loài của rừng Tam Đảo.
Dựa trên cơ sở các cuộc điều tra, khảo sát đã thống kê được cho đến năm 2005, VQG Tam Đảo có 1436 loài thuộc 741 chi, 219 họ, 6 ngành thực vật bậc cao. Trong số đó, ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có số loài nhiều nhất (1149 loài), ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có số loài ít nhất (1 loài). Trong số các loài thực vật ở VQG Tam đảo, có 68 loai đặc hữu và 58 loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam hay theo tiêu chuẩn của Liên minh bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN [102] cần được bảo tồn như Lan hài tam đảo (Paphiopedilum gratrixianum), Trà vàng tam đảo (Camellia tamdaoensis), Trà vàng petelo (Camellia petelotii), Kim giao (Nageia fleuryii). Trong số đó, đa dạng về các loài trà nói chung và Trà hoa vàng nói riêng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế [5].2 Lược sử nghiên cứu Trà hoa vàng VQG Tam Đảo Trà hoa vàng nói riêng và các loài thuộc chi trà Camellia nói chung ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ suối có bóng râm, thoát nước tốt.
Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng núi cao, địa hình phân hóa mạnh và đa dạng tạo 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Minh Trang – K23 QH2014 nên các thung lũng ẩm ướt, VQG Tam Đảo trở thành khu bảo tồn có số lượng loài trà phong phú nhất ở Việt Nam. Cho đến nay đã tìm ra 16 loài và 1 thứ thuộc chi trà được tìm thấy ở đây, trong đó có 8 loài trà hoa vàng phân bố rải rác trong dãy núi Tam Đảo [65]. Loài Trà hoa vàng đầu tiên được tìm thấy ở VQG Tam Đảo là loài trà vàng petelo Camellia petelotii bởi thầy thuốc người Pháp Alfred Petelot vào năm 1923. Trong những năm của nửa đầu thế kỷ 20, nhiều cuộc khảo sát và thu thập đã được tiến hành trong đó có các loài thuộc chi Camellia [5].
Tháng 01 năm 1998 trong đợt khảo sát sự đa dạng sinh học chi Camellia ở VQG Tam Đảo, PGS.TS Trần Ninh cùng với GS. Hakoda Naotoshi trường đại học Tokyo (Nhật Bản) đã công bố 3 loài trà mới trong đó có loài trà vàng lá dày Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda. Các loài mới này được công bố trong tạp chí Trà quốc tế (International Camellia Journal) [64][101]. Dựa trên các tài liệu tham khảo và nghiên cứu của tác giả, năm 2002 PGS.TS Trần Ninh đã công bố trên tạp chí Trà quốc tế 50 loài trà ghi nhận có mặt ở Việt Nam.
Trong số 50 loài đó có 12 loài trà gặp ở VQG Tam Đảo. Trong nhiều năm tiếp theo PGS.TS Trần Ninh đã tiến hành nhiều đợt khảo sát ở các địa điểm khác nhau của VQG Tam Đảo. Năm 2007 trong tạp chỉ khoa học trường ĐHQG Hà Nội, ông cho công bố 2 loài trà hoa vàng mới đó là Camellia hakoda Ninh và Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda.TS Trần Nình cùng đồng nghiệp đã thu thập được thêm 3 loài ở VQG Tam Đảo, trong đó có 2 loài Trà hoa vàng lần đầu tiên được tìm thấy ở đây là Camellia hirsuta Hakoda et Ninh, Camellia phanii Hakoda et Ninh [5]. Cho đến nay, 8 loài Trà hoa vàng đã được phát hiện ở VQG Tam Đảo là các loài: Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda (Trà vàng lá dày) Camellia gilberti (A.) Sealy (Trà vàng ginbec) Camellia hakodae Ninh (Trà vàng hakoda) Camellia hirsuta Hakoda et Ninh (Trà vàng nhiều lông) Camellia petelotii (Merr.) Sealy (Trà vàng petelo) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Minh Trang – K23 QH2014 Camellia phanii Hakoda et Ninh (Trà vàng phan) Camellia tamdaoensis Hakoda et Ninh (Trà vàng tam đảo) Camellia tienii Ninh, Tr.
(Hải đường vàng) [65] Trong số đó có một số loài đặc hữu của Việt Nam như Camellia crassiphylla, Camellia hakodae, Camellia tamdaoensis… Tuy đa dạng về loài nhưng phân bố của các loài trà hoa vàng ở VQG Tam Đảo lại khá hẹp trừ loài Camellia gilberti. Hai loài Camellia tamdaoensis và Camellia tienii phân bố ở sườn dốc phía Tây Nam dãy núi Tam Đảo, ở độ cao 200 – 600m. Trong khi đó, các loài Camellia hakodae, Camellia hirsuta, Camellia phanii lại thường được tìm thấy ở phía đông nam. Đăc biệt, loài Trà vàng petelo (Camellia petelotii) – loài đặc hữu của VQG Tam Đảo là loài trà hoa vàng duy nhất ở Bắc Việt Nam phân bố ở độ cao trên 900m.
Hiện nay, với hệ thống bảo vệ còn lỏng lẻo và chưa được quan tâm đúng mức, số lượng cá thể của các loài trà hoa vàng sụt giảm đáng kể do việc khai thác quá mức từ phía người dân do các loài trà này có giá trị kinh tế rất lớn [65].3 Đặc điểm hình thái và phân bố một số loài Trà hoa vàng VQG Tam Đảo Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda (Trà vàng lá dày) Cây gỗ nhỏ; cao 3-5 m. Lá có cuống dài, không lông, phiến lá hình bầu dục rộng hoặc bầu dục, xanh đậm và láng ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới, có nhiều điểm tuyến màu đen, lá dày, gốc lá tròn hoặc tim nông, chóp lá tù, mép lá có răng cưa lõm nông, gân bên 8-9 cặp. Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 4-4,3 cm. Tràng hoa gồm 9-10 cánh, các cánh bên ngoài có lông mịn ở mặt lưng, các cánh bên trong hình bầu dục thuôn, có lông mịn.
Quả hình cầu dẹp, khía 3 rãnh. Quả 3 ô, 1-3 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 2-3 mm. Mùa ra hoa: Mùa đông đến đầu xuân. Sinh thái: Mọc rải rác trong thung lũng rừng thường xanh ở độ cao 500-600 m [5, 65].
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Minh Trang – K23 QH2014 Camellia hakodae Ninh (Trà vàng hakoda) Cây gỗ nhỏ, cao 3-4 m. Cành non màu nâu nhạt, nhẵn. Phiến lá hình bầu dục, bầu dục rộng hoặc thuôn, xanh đậm và láng ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới với nhiều điểm tuyến màu đen, cả hai mặt đều không lông, mép lá có răng cưa nhỏ cách đều nhau, hệ gân lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới. Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 6-8 cm.
Lá đài 5, hình vẩy đến gần tròn, mép và mặt trong có lông. Tràng hoa gồm 16-17 cánh, gần tròn đến bầu dục, có lông ở mặt trong và thưa dần ở các cánh bên trong. Quả gần dạng cầu, 3-4 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 4,5-6,5 mm. Hạt dài 2,2 cm, có lông.
Mùa ra hoa: Đầu mùa đông tới đầu xuân. Điều kiện sinh thái: Mọc trong thung lũng của rừng thường xanh ở độ cao 150- 500 m. Phân bố: Loài này được thu thập đầu tiên ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 12 năm 1998. Đây là loài đặc hữu của VQG Tam Đảo.
Loài này còn số lượng cá thể rất ít và khu phân bố khá hẹp, hơn nữa sự tái sinh không nhiều nên cần có biện pháp bảo vệ [5, 65]. Camellia petelotii (Merr.) Sealy (Trà vàng petelo) Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 3-5 m, cành non màu xám nhạt, nhẵn. Lá có cuống, hình bầu dục thuôn, đôi khi hình bầu dục hoặc thuôn, mặt trên phiến lá màu xanh đậm, mặt dưới xanh sáng với nhiều điểm tuyến màu nâu nhạt, nhẵn, gốc lá hình nêm hoặc nêm rộng, chóp lá có mũi nhọn. mép lá có răng cưa nhọn nhưng cách nhau không đều.
Hoa màu vàng, mọc đơn độc ở đầu các cành non, đường kính khi nở khoảng 4,7 cm. Cuống hoa to, lá đài 5, hình trứng rộng ngược. Cánh hoa gồm 14 cánh, hình trứng rộng ngược, bầu dục. Cánh hoa bên ngoài có lông mịn màu trắng ở mặt ngoài, tất cả hợp với nhau và với bộ nhị khoảng 8 mm ở gốc.
Quả hình cầu dẹt. Hạt dài 1-2 cm, có lông. Mùa ra hoa: Mùa đông tới đầu mùa xuân năm sau. Sinh thái: Mọc trong rừng thường xanh ở độ cao 950-1100 m.
Phân bố: Vĩnh Phúc, VQG Tam Đảo. Loài đặc hữu của Việt Nam [5, 65]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Minh Trang – K23 QH2014 Camellia tamdaoensis Hakoda et Ninh (Trà vàng tam đảo) Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 2 - 4 m, cành non màu nâu nhạt, có lông mịn, cành già nhẵn. phiến lá hình bầu dục thuôn hoặc bầu dục rộng, dài, mặt trên phiến lá màu xanh đậm, láng, không lông, mặt dưới màu xanh tía đỏ, không lông, có nhiều điểm tuyến màu nâu đen.
Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 3,5-4 cm. Cuống hoa dài 5-7 mm. Lá đài 5, hình móng hay gần tròn, có lông ở mặt trong và mép. Cánh hoa gồm 11-12 cánh, gần tròn, trứng ngược hoặc bầu dục.
Quả hình cầu dẹt, khía 3 rãnh, đường kính 4 cm, cao 2,3 cm. Quả 3 ô, 3 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 2 mm Hạt có dạng bán cầu hay nêm, vỏ hạt nhẵn. Mùa ra hoa: Mùa đông Điều kiện sinh thái: mọc trong những thung lũng ẩm ướt trong rừng nhiệt đới ở độ cao 300-400 m, Phân bố: Vĩnh Phúc (VQG Tam Đảo). Đây là loài đặc hữu của Việt Nam [5, 65].
Camellia tienii Ninh, Tr. (Hải đường vàng) Cây gỗ nhỏ, thân màu trắng nhợt, cao 2,5 m. Cành và lá non màu tím, không lông. Lá có cuống gần trònx, không lông, lá dạng da, dày, phiến lá thuôn, cả hai mặt đều không có lông, mặt trên láng, mặt dưới có nhiều tuyến màu đen.
Hoa màu vàng, mọc ở nách lá, kích thước 5-6 cm. Lá đài 5, hình vẩy đến gần tròn, cao 3-7 mm, rộng 8-10 mm, có lông ở mép.