CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ I. Cơ cấu kinh tế nông thôn I1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo H. Chenery (1988) chuyển đổi cơ cấu kinh tế (hay chuyển dịch cơ cấu kinh tê) là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của sản phẩm quốc dân (GNP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người và sự chuyển đổi của nhu cầu, sản xuất, thương nghiệp và việc làm.
Các quá trình như đô thị hoá, biến động và di chuyển dân số, thay đổi về thu nhập là các quá trình diễn ra xung quanh. Song song với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung có sự chuyến dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp. Định nghĩa tăng trưởng, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo S. Kuznets (1971), nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel vào năm 1959, tăng trưởng kinh tế là “sự nâng cao trong chu kỳ khả năng cung cấp ngày càng tăng dựa trên kỹ thuật tiên tiến và các đòi hỏi về điều chỉnh thể chế và ý thức hệ”.
Nôi dung chính của đỉnh nghĩa tăng trưởng kinh tế của Simon Kuznets: 1. Sự tăng bền vững của sản phẩm quốc gia là biểu hiện của tăng trưởng và khả năng cung cấp một loạt các hàng hoá như dấu hiệu của sự chín mudi vé kinh tế. Công nghệ tiên tiến cung cấp cơ sở hay điều kiện cho sự tăng trưởng liên tục, một điều kiện cần nhưng chưa đủ. Để thực hiện được tiềm năng ấy phải có các điều tiết về thể chế, thái độ và ý thức hệ.
Sáng kiến về công nghệ không có các sáng kiến về xã hội giống như một bóng điện không có điện. Các quá trình của sự tăng trưởng là: 1. Tăng trưởng cao của sản phẩm trên đầu người và dân số. Tăng trưởng cao của năng suất tổng s6 nhan t6 (total factor productivity), nhất là năng suất lao động.
Tăng trưởng cao của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tang trưởng cao của chuyển dịch xã hội và ý thức hệ. Như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều kiện để đảm bảo tăng trưởng có chất lượng. Việc phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với tăng trưởng.
Chuyển địch cơ cấu kinh tế bao gồm các tiểu quá trình: + Sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp: công nghiệp và dịch vụ. + Sự chuyển dịch từ xí nghiệp gia đình và tư nhân sang xí nghiệp lớn. + Di chuyển từ nông thôn sang thành thị Sự chuyển dịch về thể chế, thái độ và ý thức hệ là các sự thay đổi do các quá trình đô thị hoá và hiện đại hoá gây ra. Các thể chế kinh tế cần thay đổi để tăng hiệu quả của lao động, thúc đẩy việc cạnh tranh, sự di động xã hội và kinh tế, tạo cơ hội công bằng cho các thành phần kinh tế, việc nâng cao năng suất lao động, nâng cao mức sống, thúc đẩy sự phát triển.
Các thể chế xã hội cần thay đổi để cải tiến hệ thống sử dụng ruộng đất, sự độc quyên xã hội và kinh tế, cơ cấu giáo dục, hệ thống hành chính và kế hoạch hoá. North (1997), cấu trúc thể chế của một xã hội có tác dụng tạo ra lợi ích vật chất. Thị trường có hiệu quả cao do thể chế tạo ra bằng cách hạ thấp chi phí trao đổi để người tham gia thị trường cạnh tranh nhau bằng giá và chất lượng. Chính sự cạnh tranh đã tạo ra sự thay đổi thể chế, thúc đẩy việc đầu tư kỹ thuật và kiến thức để có lợi ích cao nhất.
Kuznets (1959) phân biệt các điểm chung và đặc biệt trong phát triển của các nước, có các nhân tố xuyên quốc gia được xác định là: 1. Hệ thống công nghiệp, dựa vào việc áp dụng các tiềm năng công nghệ do khoa học mang lại. Hệ thống này đòi hỏi phải có mức giáo dục, tổ chức sản xuất không dựa trên gia đình và đô thị hoá. Một cộng đồng những người cùng mong muốn có một kết quả kinh tế và mức sống cao hơn.
Trong khi đó, các nhân tố thuộc về quốc gia là quy mô, nguồn lợi tự nhiên, di san lich sử. Gần đây Ngân hàng thế giới tổng kết lại các bài học của sự phát triển của các nước, nhấn mạnh về chính sách và thể chế bảo đảm sự phát triển bền vững. Họ khuyên các nước chú ý hơn đến giáo dục và sức khoẻ, giảm các rào cản cho buôn bán và đầu tư, xoá bỏ việc kiểm soát giá cả trong nước và giảm việc thất thu thuế. Họ cũng nhấn mạnh việc giảm nghèo bằng cách đẩy mạnh phát triển nông thôn (Vinod, 1999).
Tuy vậy tuỳ theo các đặc điểm của các nước có thể có các mô hình phát triển (patterns of đevelopment) khác nhau. Căn cứ vào kết quả phân tích chuyển địch cơ cấu Chenery và Taylor (1968) chia ra 3 mô hình phát triển khác nhau: - Kiểu nước lớn - Kiểu nước nhỏ, dựa vào khu vực sơ cấp - Kiểu nước nhỏ, dựa vào công nghiệp Sau đây là số liệu của các mô hình phát triển khác nhau do Ngân hàng thế giới tính. Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng của GDP (1950-1983) Tốc độ Hướng thươn tăn Lệch tiêu Quy mô mi ập 9 Hướng | Số nước tr vồng chuẩn (nam) Sơ cấp Nội 10 4,94 1,35 Ngoại 5 5,12 2,13 Lớn - sơ cấp 15 5,00 Nước lớn SP Chế biến Nội 6 4,73 1,21 Ngoai 8 5,26 1,51 Lớn - chế biến 14 5,04 Nước lớn | 29 5,02 Sơ cấp Nội 27 3,58 1,48 Ngoại | 23 5,01 1,94 _ | Nhỏ - sơ cấp 50 4,24 Nướcnhỏ | SP Chế biến Nội 17 4,74 1,85 Ngoai 10 5,73 2,43 Nhỏ- chế biến 27 5,11 Nước nhỏ 77 4,54 Tất cá sơ cấp 65 4,42 Tất cả chế biến 41 5,09 Tất cả hướng nội 60 4,28 Tất cả hướng 46 5,22 ngoai Tat ca 106 4,67 1,90 W. Gunter (1998) sau khi phân tích sự phát triển của 93 nước từ 1970 đến 1994 đã xác định các mô hình phát triển như sau: Bảng 2: Cơ cấu theo khu vực kinh tế và GDP của các nhóm nước Thu nhậ Thu nhập trung | Thu nhập trun Chỉ tiêu hp.
bình thấp " binh sao , Thu nhập cao GDP/người ( US$) 450 1 480 5 340 22 500 Nông nghiệp (%} 36,63 19,24 12,68 4,56 Céng nghiép (%) 21,71 31,72 35,21 35,00 Trong đó: CN chế biến 11,81 16,44 20,87 2251 Dich vu (%) 3181 49,04 50,61 57,78 J. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và theo vùng Theo các tài liêu quốc tế định nghĩa “Cơ cấu kinh tế là tỷ lệ của các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) và của các nhân tố sản xuất (nguồn lợi tự nhiên, vốn và lao động) có tác dụng thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá”. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINHTẾ > THÚC ĐẨY CÔNG NGHIỆP HOÁ Cơ cấu ngành (%) Nông nghiệp giảm Công nghiệp tăng nhanh Dịch vụ tăng Lao động Tạo việc làm Lao động nông nghiệp giảm Lao động phi nông nghiệp tăng Đô thị hoá Tập trung > Lao động di dộng ra đô thị lớn Phân tán > Lao động di dộng ra thị trấn nhỏ Vốn Tích luỹ tăng Thu hút vốn nước ngoài Năng suất lao động tăng > Thunhap tang Cơ cấu kinh tế nông thôn trên thực tế là một bộ phận không thể tách rời của cơ cấu kinh tế chung. Lê Đình Thắng (1994) cho rằng cơ cấu kinh tế nông thôn là một tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn, nó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về chất; chúng tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn - một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nền kinh tế quốc dân.
Một số tác giả nhấn mạnh các cẩn trở của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, như Dovring (1959) cho rằng quy mô lớn của khu vực nông nghiệp làm khó khăn cho việc chuyển lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp. Johnston và Kilby (1975) cho rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến hành chậm là do nhu cầu của khu vực công nghiệp nhỏ và lương của người lao động thấp. Trong kinh tế phát triển và lịch sử kinh tế người ta chú ý đến sự quan trọng tương đối của các khu vực kinh tế về mặt sản lượng và sử dụng nhân tố sản xuất (nguồn lợi tự nhiên, vốn và lao động). Quá trình trung tâm của việc chuyển dịch cơ cấu là công nghiệp hoá.
Quá trình này liên quan chặt chẽ tới các quá trình thúc đẩy công nghiệp hoá như nhu câu và thương nghiệp. Công nghiệp hoá là một quá trình chuyển dịch xã hội và kinh tế trong đó xã hội thay đổi từ một nước tiên công nghiệp sang công nghiệp. Sự chuyển dịch xã hội và kinh tế ấy gắn liên chặt chế với sáng tạo công nghệ, đặc biệt với phát triển năng lượng quy mô lớn và luyện kim (Dictionary. Mô hình hai khu vực của Lewis-Fei-Ranis cho thấy sự tăng trưởng của công nghiệp làm thay đổi cơ cấu bằng cách phân bố lao động năng suất thấp từ nông nghiệp sang công nghiệp là khu vực có năng suất cao hơn.
Thu nhập cao của khu vực công nghiệp tạo ra một nguồn nhu cầu để tăng thặng dư nông nghiệp, dùng để mua các đầu vào công nghiệp và hàng tiêu dùng. Một cách lý tưởng, sự tăng trưởng của hai khu vực là do sự cân bằng đo bằng giá cánh kéo, mà sự thay đổi có thể làm cho quá trình này thất bại (H. Trong các nghiên cứu về cơ cấu người ta dẫn cả các tỷ lệ do công nghệ, tỷ lệ tích luỹ, thay đổi về thành phần các khu vực hoạt động kinh tế, tập trung đầu tiên vào việc phân bổ việc làm, sau đấy vào sản lượng và sử dụng các nhân tố sản xuất, vào vị trí của các hoạt động kinh tế như đô thị hoá và những quá trình xây ra đồng thời với công nghiệp hoá như chuyển dịch dân số, phân phối lợi 10 nhuận. Sự thay đổi của thể chế, nhờ đó mà có sự chuyển địch, là một nhân tố quan trọng (Syrquin, 1988).
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp TI. Các giai đoạn phát triển của nông nghiệp Johnston và Mellor (1960) dựa vào các giai đoạn phát triển của Rostow chia sự phát triển của nông nghiệp ra làm ba giai đoạn: 1. Giai đoạn chuẩn bị cho sự phát triển nông nghiệp.