Chương I: LÝ LUẬN CỦA V.LÊNIN VẺ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYÈN 1. Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền 1. Khái niệm Chủ nghĩa tư bản độc quyền Chủ nghĩa tư bản độc quyên (tên tiếng anh là Monopoly ©apitalism) là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế đều tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chỉ phối sự phát triển của toàn bộ nên kinh tế. Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, sự phân hóa giữa các nhà tư bản chưa thực sự sâu sắc nên quy luật thống trị của thời kỳ nảy là quy luật lợi nhuận bình quân.
Còn trong chủ nghĩa tư bản độc quyên, quy luật thống trị là quy luật lợi nhuận độc quyên. Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ nghĩa tư bản. Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá tri thặng dư. Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền là một nắc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản.
Nguyên nhân hình thành Từ cuối thế ki XIX đầu thế kỷ XX trong nền kinh tế thị trường các nước tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện các tô chức độc quyền. Các tổ chức độc quyền xuất hiện do những nguyên nhân chủ yêu sau: Một là, sự phát triên của lực lượng sản xuất thúc đây các tô chức độc quyền. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiền bộ khoa học kỹ thuật làm xuất hiện những ngành sản xuất mới. Ngay từ đầu đã là những ngành có trình độ tích tụ cao, đòi hỏi những hình thức kinh tế tô chức mới.
Đó là những xí nghiệp lớn, sản xuất nhiều có ưu thế rõ rệt so với sản xuất lẻ, nhỏ và đã phát triển mạnh mẽ. Mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Việc nâng cao tỷ suất và khối lượng giá tri thặng dư đã mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đây sự phát triển sản xuất lớn, tăng tích tụ tư bản và sản xuất. Vào những năm cuối của thế kỳ XIX, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật mới lần lượt xuất hiện làm thay đổi cả thé giới như lò luyện im mới Bétsơme, Tômát,.
đã tạo ra lượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện hóa chất mới như axit sunfric (H,S0,), thuốc nhuộm. Đặc biệt các máy móc mới được ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện — phay,.; phát triền những phương tiện vận tải mới tân tiến: xe hơi, tàu thủy, xe điện, máy bay và đặc biệt là đường sắt. Những thành tựu khoa học này đã sinh ra những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp cản có quy mô lớn, kỹ thuật cao đồng thời tăng năng suất lao động, khả năng tích lũy tư bản từ đó thúc day phat trién sản xuất lớn. Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá tri thang du, quy luật tích lũy,.
ngày cảng mạnh mẽ làm biến đổi cơ cầu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn. Hai là, do cạnh tranh. Cạnh tranh gay gắt làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, còn các doanh nghiệp lớn tồn tại được nhưng cũng đã bị suy yếu, đề tiếp tục phát triển họ phải tăng cường tích tụ, tập trung sản xuát, liên kết với nhau thành các doanh nghiệp với quy mô ngày càng to lớn hơn.Lênin khăng định: “. tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển đến mức độ nhát định lại dẫn tới độc quyền”Z.
Ba là, do khủng hoảng sự phát triên của hệ thống tín dụng. Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp lớn song vấn tồn tại nhưng đề tiếp tục phát triển được, họ phải thúc đầy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn. Sự phát triển của hệ thống tin dụng trở thành đòn bây mạnh mẽ thúc đây tập trung sản xuất, nhát là việc hình thành, phát triển các công ty cô phản, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tô chức độc quyên. Khi các tô chức độc quyên xuất hiện các tô chức độc quyên có thê ân định giá cả độc quyền mua, độc quyền bán đề thu lợi nhuận độc quyền cao.
Samuelson bàn về độc quyền Độc quyền là hiện tượng các hãng cam kết lại, thỏa thuận cùng nhau quy định mức giá và sản phẩm làm ra, chia nhau thị trường hoặc cùng nhau vạch ra các quyết định kinh doanh.Samuelson, Kinh té hoc, tập 1, Nxb. Chinh tn quốc gia, 1997, He Nội, tr. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền Có thê khái quát một số đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền như sau: 1. Sự tập trung sản xuất và sự thông trị của các tô chức độc quyền Tổ chức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vảo trong tay một phần lớn sản phâm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa, các liên minh độc quyên hình thành theo liên kết ngang, nghĩa là mới chỉ liên kết những doanh nghiệp trong cùng một ngành, nhưng về sau theo môi liên hệ dây chuyền, các tô chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc, mở rộng ra nhiều ngành khác nhau. Những hình thức độc quyền cơ bản là cacten, xanhđica, tơnrớt, côngxoỏcxIom, cônggơlômêrát. - Cacten (Cartel) 1a hình thức tổ chức độc quyền giữa các nhà tư bản ký hiệp nghị thỏa thuận với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán, V. Các nhà tư bản tham gia cácten vẫn độc lập về sản xuất và thương nghiệp.
Họ chỉ cam kết làm đúng hiệp nghị, nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo quy định của hiệp nghị. Vì vậy, cácten là liên minh độc quyền không vững chắc. Trong nhiều trường hợp, những thành viên thay 6 vao vị trí bất lợi đã rút ra khỏi cácten, làm cho cácten thường tan vỡ trước kỳ hạn. 5 - Xanhđica (Syndicate) là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định hơn cácten.
Các xí nghiệp tham gia xanhđica vẫn giữ độc lập về sản xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông: mọi việc mua - bán do một ban quản trị chung của xanhđica đảm nhận. Mục đích của xanhđica là thống nhất đầu mối mua va ban dé mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hóa với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao. - Torot (Trust) la mét hình thức độc quyén cao hơn cácten và xanhđica, nhằm thông nhất cả việc sản xuất, tiêu thụ, tài vụ đều do một ban quan tri quan ly. Cac nhà tư bản tham gia torớt trở thành những cô đông thu lợi nhuận theo số lượng cô phân.
-_ Côngxoócxiom (Consortium) là một hình thức độc quyền có trình độ và quy mô lớn hơn các hình thức độc quyền trên. Tham gia côngxoócxiom không chỉ có các nhà tư bản lớn mà còn cả các xanhổica, torớt, thuộc các ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu liên kết dọc như vậy, một côngxoócxiom có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài hình vào một nhóm tư bản kếch sù. Tư bản tài chính và tràm tư bản tài chính Cùng với quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công nghiệp cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung tư bản trong: ngân hàng dẫn đến hình thành các tôchức độc quyên trong ngân hàng.
Quy luật tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng cũng giống như trong công nghiệp, do quả trình cạnh tranh các ngân hàng vừa và nhỏ bị thôn tính, dẫn đến hình thành những ngân hàng lớn. Khi sản xuất trong ngành công nghiệp tích tụ ở mức độ cao, thì các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực và uy tín phục vụ cho công việc kinh doanh của các xí nghiệp công nehiệp lớn. Các tô chức độc quyền này tìm kiếm các ngân hàng lớn hơn, thích hợp với các điều kiện tài chính và tín dụng của mình. Trong điều kiện đó, các ngân hàng nhỏ phải tự sáp nhập vào các ngân hàng mạnh hơn, hoặc phải chấm dứt sự tồn tại cua minh trước quy luật khốc liệt của cạnh tranh.
Quá trình này đã thúc đây các tô chức độc quyền ngân hàng ra đời. Sự xuất hiện, phát triển của các tô chức độc quyền trong ngân hàng đã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, làm cho ngân hàng bắt đầu 6 có vai trò mới. Ngân hàng từ chỗ chỉ là trung gian trong việc thanh toán vả tín dụng, nay đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên có quyền lực vạn năng, khống chế mọi hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyên ngân hàng cử đại điện của mình vào các cơ quan quản lý của độc quyền công nghiệp dé theo dõi việc sử dụng tiền vay, hoặc trực tiếp đầu tư vào công nghiệp.
Trước sự khốngchế và chi phối ngày càng xiết chặt của ngân hàng, một quá trình xâm nhập tương ứng trở lại của các độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra. Các tô chức độc quyên công nghiệp cùng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cô phần của ngân hàng lớn đề chí phối hoạt động của ngân hàng, hoặc lập ngân hàng riêng phục vụ cho mình. Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và trong ngân hàng xoăn xuýt với nhau và thúc đây lẫn nhau làm nảy sinh một thứ tư bản mới, gọi là tư bản tài chính. Các đầu sỏ tài chính thiết lập sự thông trị của mình thông qua chế độ tham dự.
Thực chất của chế độ tham dự là một nhà tài chính lớn, hoặc một tập đoàn tài chính nhờ có số cô phiếu khống chế mà nắm được một công ty lớn nhất với tư cách là công ty gốc (hay là “công ty mẹ”); công ty này lại mua được cô phiếu khống chế, thống trị được công ty khác, gọi là “công ty con”; “công ty con” đến lượt nó lại chỉ phối các “công ty cháu” cũng bằng cách như thế.