Luận văn thạc sĩ: Đổi mới quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Vĩnh Phúc

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn mới.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đổi mới quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Vĩnh Phúc

Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Đây là công cụ vĩ mô điều tiết nền kinh tế. Quản lý ngân sách nhà nước đòi hỏi tính thống nhất và kỷ cương cao. Nguyên tắc tập trung dân chủ giữ vai trò xuyên suốt. Việc quản lý hiệu quả giúp huy động tối đa nguồn lực xã hội. Nguồn lực này phục vụ trực tiếp cho các chiến lược phát triển kinh tế địa phương. Tỉnh Vĩnh Phúc là địa bàn có tốc độ công nghiệp hóa nhanh. Sau thời điểm tái lập, tỉnh từng đối mặt với nhiều khó khăn. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ thuần nông sang công nghiệp và dịch vụ. Nhu cầu chi tiêu ngân sách cho hạ tầng tăng mạnh. Trong khi đó nguồn thu ban đầu còn phân tán. Đổi mới quản lý ngân sách trở thành đòi hỏi cấp bách. Quá trình này giúp nâng cao hiệu quả phân bổ vốn công. Chính sách tài khóa địa phương cần theo kịp sự phát triển thực tế. Việc nghiên cứu lý luận ngân sách tạo nền tảng vững chắc. Cơ sở khoa học này giúp địa phương xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp. Cải cách thể chế tài chính bảo đảm tính bền vững lâu dài.

1.1. Khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước địa phương

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi tiền tệ của quốc gia. Các khoản thu chi này được cơ quan có thẩm quyền quyết định. Ngân sách địa phương là bộ phận hợp thành của hệ thống tài chính quốc gia. Nguồn vốn này phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quản lý nhà nước tại cơ sở. Tại Vĩnh Phúc, ngân sách tạo đòn bẩy phát triển kinh tế. Nguồn lực ngân sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và điện chiếu sáng. Ngoài ra, ngân sách địa phương bảo đảm các chính sách an sinh xã hội. Các chương trình y tế và giáo dục được tài trợ từ nguồn vốn này. Quản lý tốt ngân sách giúp địa phương chủ động nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

1.2. Tính tất yếu của việc đổi mới cơ chế quản lý ngân sách

Cơ chế quản lý ngân sách cũ bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Quy trình lập dự toán còn mang tính áp đặt từ trên xuống. Sự phối hợp giữa các cấp hành chính đôi khi thiếu đồng bộ. Tỉnh Vĩnh Phúc bước vào giai đoạn mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Các khu công nghiệp hình thành tạo áp lực lớn lên ngân sách địa phương. Chi tiêu công cần linh hoạt và minh bạch hơn. Kinh nghiệm quốc tế từ các nước phát triển như Mỹ và Đức chỉ ra sự cần thiết phải phân cấp rõ ràng. Đổi mới quản lý ngân sách giúp hạn chế tình trạng lãng phí nguồn lực. Đồng thời, cải cách quy trình tài chính tạo động lực cho các cấp chính quyền chủ động khai thác nguồn thu.

II. Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Thực tiễn quản lý ngân sách tại Vĩnh Phúc ghi nhận nhiều bước tiến lớn. Từ sau năm 1997, cơ cấu thu chi ngân sách địa phương chuyển biến tích cực. Tổng thu ngân sách tăng dần qua từng năm tài chính. Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp quốc doanh đóng góp đáng kể. Tuy nhiên công tác quản lý vẫn tồn tại nhiều khó khăn. Nguồn thu nội địa chưa thực sự ổn định. Tình trạng nợ đọng thuế và thất thu thuế vẫn diễn ra tại một số lĩnh vực. Về phía chi ngân sách, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản tăng vọt. Áp lực hoàn thiện trụ sở làm việc, hệ thống giao thông và mạng lưới thủy lợi là rất lớn. Cơ cấu chi thường xuyên còn chiếm tỷ trọng tương đối cao. Việc phân cấp ngân sách giữa cấp tỉnh, huyện và xã chưa thật sự đồng bộ. Năng lực lập dự toán ở cấp cơ sở còn bộc lộ nhiều lúng túng. Cơ chế kiểm soát chi chưa ngăn chặn triệt để tình trạng dàn trải nguồn vốn đầu tư.

2.1. Phân tích công tác quản lý thu ngân sách nhà nước

Công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều tiến bộ. Cơ quan thuế mở rộng quản lý đối tượng nộp thuế. Nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh và thương mại dịch vụ tăng trưởng. Ngành tài chính tăng cường kiểm tra, rà soát sổ sách doanh nghiệp. Tuy vậy, cơ cấu nguồn thu vẫn phụ thuộc lớn vào một số ít doanh nghiệp trọng điểm. Việc khai thác các nguồn thu từ đất đai và tài nguyên còn phân tán. Tình trạng trốn thuế và gian lận thương mại ở khu vực ngoài quốc doanh vẫn tiềm ẩn rủi ro. Công tác dự báo nguồn thu hàng năm chưa thực sự bám sát biến động kinh tế.

2.2. Hạn chế trong phân cấp và điều hành chi ngân sách

Quản lý chi ngân sách địa phương đối mặt với nhiều bất cập lớn. Phân cấp quản lý chi giữa cấp tỉnh và huyện còn chồng chéo nhiệm vụ. Quy trình thẩm định dự án đầu tư công đôi khi kéo dài làm chậm tiến độ thi công. Nhiều dự án phát sinh chi phí phát sinh ngoài dự toán ban đầu. Chi thường xuyên cho các đơn vị hành chính sự nghiệp chậm được tinh giản. Việc thực hiện khoán chi và trao quyền tự chủ tài chính còn mang tính hình thức. Tại cấp xã, nguồn chi ngân sách hạn hẹp và phụ thuộc trợ cấp cấp trên. Hệ thống thanh tra và kiểm soát qua kho bạc nhà nước chưa xử lý kịp thời các sai phạm.

III. Giải pháp đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn Vĩnh Phúc

Để thúc đẩy phát triển kinh tế, tỉnh Vĩnh Phúc cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tài chính. Trước hết, địa phương cần hoàn thiện phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi. Phân cấp phải bảo đảm quyền chủ động cho chính quyền cấp dưới đi kèm trách nhiệm giải trình. Thứ hai, quy trình lập và chấp hành dự toán ngân sách cần đổi mới theo chuẩn mực hiện đại. Thời gian chuẩn bị dự toán cần kéo dài để nâng cao chất lượng khảo sát thực tế. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý kho bạc và cơ quan thuế là yêu cầu then chốt. Thứ ba, tỉnh cần nuôi dưỡng và mở rộng cơ sở thu thuế vững chắc. Địa phương cần khuyến khích đầu tư kinh doanh và tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Thứ tư, cơ cấu chi ngân sách phải chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tiết kiệm chi thường xuyên. Vốn tiết kiệm được tập trung cho các dự án hạ tầng giao thông và đô thị trọng điểm. Công tác thanh tra tài chính phải thực hiện nghiêm túc và thường xuyên.

3.1. Hoàn thiện chu trình và phân cấp quản lý ngân sách

Đổi mới chu trình ngân sách bắt đầu từ khâu lập dự toán thu chi. Kế hoạch tài chính cần xây dựng theo tầm nhìn trung hạn ba đến năm năm. Tỉnh Vĩnh Phúc cần tăng quyền tự chủ cho cấp huyện và xã trong quản lý ngân sách. Mỗi cấp chính quyền địa phương phải có nguồn thu ổn định gắn liền nhiệm vụ chi rõ ràng. Quy trình phân bổ vốn đầu tư công cần căn cứ vào hiệu quả kinh tế xã hội thực tế. Việc phê duyệt dự toán phải gắn liền với giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp. Cơ chế này bảo đảm mọi đồng vốn ngân sách đều sử dụng đúng mục đích.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ và hiện đại hóa bộ máy thu chi

Bộ máy quản lý tài chính địa phương cần được kiện toàn tinh gọn và chuyên nghiệp. Cán bộ tài chính cấp xã và huyện phải được bồi dưỡng chuyên môn liên tục. Đội ngũ quản lý cần nắm vững luật ngân sách và quy trình kế toán công. Tỉnh Vĩnh Phúc cần đẩy mạnh chuyển đổi số ngành tài chính. Việc số hóa toàn bộ thủ tục nộp thuế giúp tiết kiệm thời gian và ngăn ngừa tiêu cực. Kho bạc nhà nước cần kết nối dữ liệu trực tuyến với ngân hàng thương mại. Sự phối hợp điện tử này giúp kiểm soát chi ngân sách nhanh chóng, chính xác và bảo đảm an toàn quỹ công.

IV. Kết luận về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc

Đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt. Cải cách tài chính công tạo động lực mạnh mẽ cho kinh tế địa phương cất cánh. Việc kết hợp chặt chẽ giữa mở rộng nguồn thu và kiểm soát chi tiêu bảo đảm tính bền vững cho ngân sách. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ kinh tế cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị. Những giải pháp đề xuất có khả năng áp dụng trực tiếp vào công tác điều hành của Ủy ban nhân dân và Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Phúc. Tỉnh đã xây dựng được nền tảng hạ tầng đồng bộ nhờ sử dụng hiệu quả vốn đầu tư phát triển. Trong giai đoạn tiếp theo, địa phương cần tiếp tục phát huy các thành quả đạt được. Tính minh bạch và kỷ luật ngân sách phải luôn được đặt lên hàng đầu. Sự đồng thuận của người dân và doanh nghiệp là thước đo cho thành công của chính sách tài khóa địa phương.

4.1. Đánh giá khả năng ứng dụng thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho ngành tài chính địa phương. Các mô hình phân tích số liệu phản ánh chân thực bức tranh ngân sách Vĩnh Phúc qua các thời kỳ. Cơ quan chuyên môn có thể tham khảo các đề xuất để hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách. Quy trình lập dự toán đa năm được kiến nghị có thể áp dụng ngay vào kỳ kế hoạch tiếp theo. Việc chuẩn hóa quy trình thẩm định vốn đầu tư giúp các ban quản lý dự án hạn chế lãng phí ngân sách. Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý tài chính công.

4.2. Khuyến nghị nâng cao hiệu quả tài chính công địa phương

Nhằm nâng cao hiệu quả tài chính công, tỉnh Vĩnh Phúc cần tập trung một số giải pháp trọng tâm. Ủy ban nhân dân tỉnh cần tăng cường giám sát việc thực hiện kỷ luật tài khóa ở các cấp. Ngành tài chính phải chủ động mở rộng cơ sở thu thuế và chống thất thu đối với các ngành dịch vụ mới. Công tác phân bổ vốn đầu tư cơ bản cần ưu tiên cho các dự án liên kết vùng. Các đơn vị sự nghiệp công lập cần được đẩy nhanh lộ trình tự chủ tài chính toàn diện. Cuối cùng, công tác thanh tra kiểm toán độc lập phải được tổ chức định kỳ để đảm bảo tính minh bạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt một số vấn đề về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Sự cần thiết khách quan của quá trình đổi mới quản lý ngân sách Nhà nước 1.1- Những vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nước 1.1-Khái niệm ngân sách nhà nước Lịch sử phát triển của xã hội trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Trong buổi bình minh của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh mẽ, giai cấp tư sản cần một không gian kinh tế tài chính thông thoáng để tự do sản xuất kinh doanh. Sự cản trở bởi những quy định về thể chế tài chính của giai cấp phong kiến đang suy tàn, nhất là chế độ thuế khoá vô lý, chế độ chi tiêu không rõ ràng đã gây nên phản ứng mạnh mẽ đối với giai cấp tư sản. Họ đấu tranh để có một chế độ thuế khoá theo luật định và chế độ chi tiêu tách bạch giữa chi tiêu chung của nhà nước và chi tiêu của gia đình các vua chúa.

Kết quả cuộc đấu tranh đó đã đưa đến những thay đổi lớn trong quản lý tài chính của nhà nước và thuật ngữ NSNN được dùng từ đó. Như vậy, khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm nhà nước. Khi nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu của mình, hay nói cách khác đó là điều kiện cần để xuất hiện NSNN. Song khái niệm NSNN ra đời trong lịch sử chỉ khi quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh.

Đó chính là điều kiện đủ để xuất hiện NSNN. Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội, song cho đến nay chưa có một quan niệm thống nhất về khái niệm NSNN. Luật NSNN được Quốc hội khoá IV kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20.1996, công bố ngày 3.1996 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” {17; 6}. 7 Theo giáo trình tài chính học của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà nội : “NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước - quỹ ngân sách - để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước” {15, 39}.

Giáo trình kinh tế chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có ghi: “NSNN là khâu tài chính tập trung nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” {14, 188}. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu NSNN trên các khía cạnh: Thứ nhất: NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản, hay rõ hơn là bản dự toán thu, chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ hai: NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính.

Thứ ba: NSNN là quỹ tiền tệ của nhà nước hay còn gọi là quỹ ngân sách- phục vụ việc thực hiện chức năng của nhà nước. Các quan niệm trên đã thể hiện được mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN, nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế, xã hội của NSNN. Trong thực tế, hoạt động NSNN nhìn bề ngoài là hoạt động thu, chi tài chính của nhà nước. Hoạt động này rất đa dạng, phong phú, được tiến hành trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế-xã hội.

Tuy vậy chúng cũng có những đặc điểm chung: -Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. -Những hoạt động thu-chi tài chính đó đều chứa đựng nội dung kinh tế-xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Với quyền lực tối cao của mình nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính 8 xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể là các thành viên trong xã hội, mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế đó.

Nghĩa là nhà nước không thể dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dưới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá mà phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết một cách hài hoà giữa lợi ích nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội. Nếu chỉ chú trọng đến lợi ích của nhà nước mà không chú ý đến lợi ích của xã hội thì quan hệ giữa nhà nước và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Do đó việc khẳng định NSNN thể hiện các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội có ý nghĩa quan trọng không chỉ đơn thuần về mặt lý luận mà còn thực sự cần thiết trong quá trình quản lý và điều hành NSNN. Mọi hoạt động thu chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội: Đó là mối quan hệ giữa phần nộp vào NSNN và phần để lại cho các chủ thể kinh tế.

Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội nói chung. Từ những đặc điểm hoạt động thu chi của NSNN và sự phân tích trên, có thể hiểu NSNN một cách khái quát như sau: NSNN là một phạm trù kinh tế, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước.2- Cơ cấu NSNN NSNN được cấu thành bởi hai phần: Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN. Phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.1-Thu ngân sách nhà nước -Thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế dựa trên quyền lực nhà nước nhằm 9 giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế. Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước.

Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia - kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Thu ngân sách Nhà nước gồm: -Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; -Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước: +Lợi tức từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế; +Tiền thu hồi vốn của nhà nước vào các cơ sở kinh tế; +Thu hồi tiền cho vay của nhà nước (cả gốc và lãi). -Thu từ hoạt động sự nghiệp; -Thu hồi quỹ dự trữ nhà nước; -Tiền sử dụng đất: thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; -Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở; -Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; -Các khoản di sản nhà nước được hưởng; -Thu kết dư ngân sách năm trước; -Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp; -Các khoản tiền phạt, tịch thu; -Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; -Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài; -Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố 10 trực thuộc trung ương (gọi chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật NSNN được đưa vào cân đối ngân sách {17;196}. Việc phân phối các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN.

Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm: Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc bao gồm thuế, phí và lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế nhà nước. Nhóm thu không thường xuyên gồm các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản do nhà nước vay để bù đắp bội chi. Ngoài ra còn có các khoản thu vay và viện trợ của nước ngoài.2-Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội mà nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước gồm: -Chi thường xuyên về: +Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường và các sự nghiệp khác; +Các hoạt động sự nghiệp kinh tế; +Quốc phòng, an ninh và trật tự - an toàn xã hội; +Hoạt động của các cơ quan Nhà nước; +Hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; +Hoạt động của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam; +Trợ giá theo chính sách của nhà nước; +Các chương trình quốc gia; +Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ; 11 +Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; +Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; +Trả lãi tiền do nhà nước vay; +Viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài; +Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ