Luận văn thạc sĩ: Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp khi đô thị hóa

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa ở nước ta hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan việc làm lao động nông nghiệp trong đô thị hóa

Việt Nam là quốc gia đang phát triển với lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào. Lực lượng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa thúc đẩy tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Nhiều khu đô thị, cụm công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm liên tục hình thành. Đô thị hóa mở rộng không gian kinh tế nhưng cũng thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người sụt giảm nghiêm trọng. Thực trạng này đặt ra thách thức lớn về sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân. Nông dân mất tư liệu sản xuất chính dẫn đến nguy cơ thiếu việc làm cục bộ. Tỷ lệ thất nghiệp tại các vùng ven đô có chiều hướng gia tăng. Nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao hơn. Trong khi đó, lao động nông thôn phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản. Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế tập trung nghiên cứu toàn diện vấn đề này. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để tìm kiếm giải pháp tạo sinh kế bền vững. Mục tiêu cốt lõi là bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

1.1. Tính cấp thiết của vấn đề việc làm trong bối cảnh mới

Đô thị hóa là xu thế tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện đại. Quá trình này làm giảm diện tích đất canh tác bình quân đầu người xuống mức rất thấp. Hàng vạn hộ nông dân phải rời bỏ đồng ruộng truyền thống. Họ đối mặt với nguy cơ mất nguồn thu nhập chính và rơi vào tình trạng bần cùng hóa. Thị trường lao động công nghiệp đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao. Lao động nông thôn chưa kịp thích ứng với kỷ luật lao động mới. Áp lực việc làm đè nặng lên các khu vực chuyển đổi quy hoạch. Vấn đề này tác động trực tiếp đến trật tự xã hội và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu giải pháp việc làm trở thành yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn kinh tế

Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm của lao động nông nghiệp. Nghiên cứu khảo sát kinh nghiệm chuyển đổi nghề nghiệp từ Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines. Nhiệm vụ trọng tâm là phân tích tác động của đô thị hóa đến sinh kế nông dân. Luận văn chỉ ra các rào cản lớn như thiếu vốn, thiếu công nghệ và thông tin thị trường yếu. Năng lực nghề nghiệp hạn chế cản trở người lao động tiếp cận khu vực công nghiệp. Từ những phân tích thực trạng, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp tạo việc làm đồng bộ. Các khuyến nghị giúp định hướng đào tạo nghề, mở rộng ngành nghề và ổn định an sinh xã hội.

II. Phân tích thực trạng việc làm lao động nông nghiệp hiện nay

Thực trạng việc làm của lao động nông nghiệp đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Quá trình công nghiệp hóa chuyển đổi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và dịch vụ. Người nông dân mất đi tư liệu sản xuất cốt lõi gắn bó nhiều thế hệ. Đất canh tác sụt giảm khiến tình trạng thiếu việc làm tăng nhanh tại nông thôn. Nhiều lao động bị dồn vào cảnh nhàn rỗi theo mùa vụ hoặc thất nghiệp toàn phần. Đa số lao động nông nghiệp chỉ có kinh nghiệm canh tác thủ công truyền thống. Họ thiếu hụt kiến thức kỹ thuật chuyên môn và tác phong công nghiệp. Trình độ học vấn phổ thông của lực lượng này nhìn chung còn khiêm tốn. Khả năng tiếp cận thị trường thông tin việc làm chính thức còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp FDI và khu công nghiệp đặt ra yêu cầu tuyển dụng cao. Do đó, người lao động mất đất rất khó đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng. Phần lớn họ chuyển sang làm các công việc phi chính thức bấp bênh. Thu nhập của nhóm lao động này thiếu ổn định và không có bảo hiểm xã hội. Sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị ngày càng nới rộng.

2.1. Tác động của thu hồi đất đến đời sống người nông dân

Việc thu hồi đất phục vụ đô thị hóa làm thay đổi căn bản cơ cấu sinh kế nông thôn. Nông dân mất đất đồng nghĩa với việc mất nguồn thu nhập và việc làm quen thuộc. Tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thường được chi tiêu cho tiêu dùng trước mắt. Người dân thiếu kỹ năng quản lý tài chính và kiến thức đầu tư sinh lời. Khi nguồn tiền đền bù cạn kiệt, nguy cơ tái nghèo xuất hiện nhanh chóng. Quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp làm tăng mật độ dân số khu vực ngoại ô. Tình trạng cạnh tranh việc làm giản đơn tại địa phương trở nên gay gắt. Đời sống văn hóa xã hội nông thôn cũng phát sinh nhiều xáo trộn và xung đột lợi ích.

2.2. Rào cản về kỹ năng và trình độ của nguồn nhân lực

Lực lượng lao động nông nghiệp đối mặt với rào cản lớn về trình độ tay nghề. Phần lớn lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật hoặc chỉ có kỹ năng sản xuất thô sơ. Thói quen lao động tự do gây khó khăn khi chuyển sang môi trường nhà máy kỷ luật cao. Sự thiếu hụt kỹ năng công nghệ thông tin cản trở việc tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp. Các kênh thông tin tuyển dụng chính thống chưa tiếp cận hiệu quả đến người dân vùng ven đô. Nguồn vốn tự có hạn hẹp khiến người lao động khó tự khởi nghiệp hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh. Sự bất cân ứng cung cầu lao động tạo ra khoảng cách lớn trên thị trường việc làm hiện đại.

III. Giải pháp việc làm cho lao động nông nghiệp trong đô thị hóa

Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề cho nông dân mất đất. Đào tạo nghề phải gắn liền với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trên địa bàn. Chương trình đào tạo cần tập trung nâng cao kỹ năng kỹ thuật và kỷ luật công nghiệp. Kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc và Philippines cho thấy tầm quan trọng của việc khuyến khích tự tạo việc làm. Cần mở rộng các gói tín dụng ưu đãi để nông dân tiếp cận nguồn vốn sản xuất kinh doanh. Chính quyền địa phương cần phát triển các mô hình kinh tế dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Tận dụng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và vốn ODA để mở rộng cơ sở hạ tầng. Hạ tầng hoàn thiện sẽ thu hút doanh nghiệp đầu tư và tạo ra nhiều chỗ làm việc mới. Đồng thời, các trung tâm dịch vụ việc làm cần đẩy mạnh cung cấp thông tin thị trường minh bạch. Người lao động cần được tư vấn định hướng nghề nghiệp phù hợp với lứa tuổi và năng lực. Mối liên kết giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp là chìa khóa then chốt tạo sinh kế bền vững.

3.1. Đổi mới đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Đào tạo nghề cần chuyển dịch mạnh mẽ từ cung cấp số lượng sang nâng cao chất lượng thực chất. Các cơ sở dạy nghề phải phối hợp chặt chẽ với khu công nghiệp để xây dựng giáo trình. Khóa học ngắn hạn nên tập trung vào kỹ năng vận hành máy móc và dịch vụ hậu cần. Đào tạo lại cho nhóm lao động lớn tuổi cần chú trọng nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Doanh nghiệp tiếp nhận lao động địa phương cần được hưởng ưu đãi thuế và đất đai. Việc này khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo và tuyển dụng. Người học nghề cần được hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong suốt thời gian tham gia khóa đào tạo.

3.2. Đẩy mạnh thu hút đầu tư và mở rộng thị trường việc làm

Mở rộng thị trường việc làm đòi hỏi sự kết hợp giữa thu hút FDI và phát triển doanh nghiệp nhỏ. Địa phương cần cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút các dự án công nghệ cao. Các nguồn vốn ODA cần được giải ngân hiệu quả vào cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ. Hạ tầng đồng bộ tạo nền tảng phát triển các cụm công nghiệp vệ tinh tại vùng ven đô. Chính quyền cần khuyến khích các hộ gia đình tự mở cơ sở kinh doanh thương mại và dịch vụ. Hỗ trợ vốn vay lãi suất thấp giúp nông dân chuyển đổi từ làm thuê sang làm chủ kinh doanh. Thị trường lao động minh bạch sẽ kết nối cung cầu nhanh chóng và giảm thiểu thất nghiệp.

IV. Kết luận nghiên cứu giải quyết việc làm lao động nông nghiệp

Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đô thị hóa. Đô thị hóa tạo ra động lực tăng trưởng nhưng cũng đem lại áp lực xã hội to lớn. Thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp bắt buộc phải đi kèm chuyển dịch cơ cấu nhân lực. Luận văn thạc sĩ kinh tế đã phân tích sâu sắc các tác động nhiều chiều của hiện tượng này. Công trình làm rõ nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn. Nghiên cứu khẳng định vai trò quyết định của chính sách đào tạo nghề và hỗ trợ vốn. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân là điều kiện tiên quyết. Các giải pháp đề xuất không chỉ giải quyết bài toán sinh kế trước mắt cho nông dân. Chúng còn góp phần xây dựng lực lượng lao động công nghiệp thích ứng với thời kỳ mới. Việc thực hiện hiệu quả các khuyến nghị sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Đời sống người nông dân được nâng cao, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý kinh tế và an sinh xã hội.

4.1. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài thạc sĩ

Luận văn bổ sung và hệ thống hóa lý luận về thị trường lao động nông nghiệp thời kỳ đô thị hóa. Công trình cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng chuyển dịch việc làm tại Việt Nam. Các số liệu và phân tích thực tiễn phản ánh chân thực những khó khăn của nông dân mất đất. Đề tài kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm tạo việc làm từ các nước phát triển trong khu vực. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính đồng bộ, có tính ứng dụng cao cho từng địa phương. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế xã hội. Các kết quả nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý lao động ngoại thành.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng chính sách cho các địa phương

Các địa phương cần lồng ghép kế hoạch tạo việc làm ngay từ khâu quy hoạch thu hồi đất. Việc đền bù giải phóng mặt bằng phải đi liền với phương án đào tạo nghề dài hạn. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về cung cầu lao động nông nghiệp tại từng xã, phường. Cơ quan quản lý cần giám sát chặt chẽ các dự án đầu tư để bảo đảm tỷ lệ tuyển dụng lao động bản địa. Chính sách tín dụng ưu đãi phải được triển khai nhanh chóng và đúng đối tượng thụ hưởng. Đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch sinh thái để tạo việc làm tại chỗ. Những giải pháp này bảo đảm chuyển đổi cơ cấu kinh tế hài hòa và phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP, ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm lao động nông nghiệp Khái niệm "lao động" tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra các quan niệm về "lao động" tương ứng. Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động, là phương thức tồn tại của con người.

Thứ hai, coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần của con người dưới dạng hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người. Dựa vào quan niệm lao động là hành động xã hội, người ta phân biệt năm yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động và chủ thể lao động. Trong đó chủ thể lao động là con người với tất cả đặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa cá nhân. Đối với mỗi dạng hoạt động lao động đòi hỏi ở mỗi cá nhân một tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định.

Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đồng tình với khái niệm "lao động" chính là bản thân con người với tất cả sự nỗ lực vật chất, tinh thần của nó, thông qua hoạt động lao động của mình, sử dụng các công cụ lao động, tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định [14, tr. Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp được coi là lao động nông nghiệp. Để hiểu rõ hơn bản chất khái niệm "lao động", chúng ta cần nghiên cứu thêm các khái niệm: nguồn nhân lực, nguồn lao động. Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để tham gia vào quá trình phát triển đất nước.

5 Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về chất lượng, nguồn nhân lực thể hiện ở sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Nguồn lao động cũng được biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất lượng như nguồn nhân lực. Về độ tuổi, mỗi quốc gia có quy định giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu khác nhau: giới hạn tối thiểu ở Braxin: 10 tuổi, Úc: 15 tuổi, Mỹ: 16 tuổi,. phần lớn các quốc gia quy định độ tuổi này từ 14 hoặc 15 tuổi. Ở Việt Nam quy định 15 tuổi, giới hạn tối đa: các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Thụy Sĩ, Na Uy, Phần Lan) quy định độ tuổi này là 74 tuổi.

Còn các nước đang phát triển: Malaixia, Ai Cập, Mêhicô,. quy định độ tuổi này là 65 tuổi. Ở Việt Nam độ tuổi này được quy định: 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ [25, tr. Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức,.) việc không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.

Số lượng lao động đông đảo không còn chiếm ưu thế, nhất là với lao động có chất lượng thấp. Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ, làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong một số ngành kinh tế khác. Đặc biệt là tính chất thời vụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến. Khái niệm việc làm 6 Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.

Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.

- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. + Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm.

Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm,. Không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình 7 mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo,.

Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công. Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm: Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Tuy nhiên, với khái niệm trên, theo tác giả luận văn có điểm còn bất hợp lý: có những hoạt động có ích cho gia đình, cho xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập "trực tiếp" cho người tham gia hoạt động - như công việc nội trợ của phụ nữ,. lại không được coi là việc làm.

Nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ, đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình; tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy, thực chất của vấn đề ở đây là công việc nội trợ của phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình. Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn đồng tình với quan điểm: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng [39, tr. Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tăng cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên.

Mặt khác, khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm sản lượng, khối lượng việc làm sẽ giảm. Trong xu thế CNH, HĐH nền kinh tế, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc có yêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng. 8 Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới "cầu" lao động và "cơ cấu" lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh; phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo ra được nhiều chỗ làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là điều khó tránh khỏi.

Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ căng thẳng, khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng nhanh, đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống vì nhiều lý do: đô thị hóa, đất ở,. tăng, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học công nghệ,.

làm cho năng suất lao động tăng nhanh, giải phóng một lượng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp. Nếu không tạo đủ công ăn, việc làm cho người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân đổ xô ra các thành phố và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý lao động, quản lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ