Luận văn thạc sĩ: Đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy sắp xếp, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Quảng Bình.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại Quảng Bình

Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại tỉnh Quảng Bình, khối kinh tế này tạo nguồn thu lớn và ổn định công ăn việc làm. Quá trình chuyển dịch cơ cấu đòi hỏi các đơn vị công lập phải thay đổi để thích ứng môi trường cạnh tranh. Nghị quyết Đại hội Đảng đã xác định rõ chủ trương tái cấu trúc khu vực này. Tỉnh Quảng Bình triển khai sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ rất sớm. Hoạt động này tập trung giải quyết tình trạng dàn trải và kém hiệu quả về vốn. Địa phương chủ động rà soát danh mục từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Các đơn vị không cần giữ 100% vốn được phân loại để chuyển đổi hình thức sở hữu. Công tác đổi mới giúp tối ưu hóa chi phí cố định và tăng tính tự chủ. Nhà nước chỉ nắm giữ những ngành then chốt và địa bàn chiến lược. Nhờ đó, nguồn lực tài chính địa phương được phân bổ chính xác hơn. Việc sắp xếp doanh nghiệp tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.

1.1. Khái niệm và tính tất yếu của việc đổi mới doanh nghiệp

Sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước là quá trình cơ cấu lại sở hữu, tổ chức và quản lý. Hoạt động này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả vận hành và năng lực tài chính. Kinh tế thị trường đòi hỏi sự bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước không thể duy trì cơ chế bao cấp lỗi thời. Việc tinh gọn bộ máy giúp xóa bỏ tình trạng ỷ lại vào ngân sách địa phương. Doanh nghiệp tự chủ tài chính sẽ thích nghi nhanh với biến động thị trường. Tái cơ cấu mở đường cho việc áp dụng phương thức điều hành tiên tiến. Đổi mới là đòi hỏi khách quan để phát triển bền vững.

1.2. Các hình thức sắp xếp doanh nghiệp nhà nước phổ biến

Các hình thức sắp xếp doanh nghiệp nhà nước rất đa dạng và linh hoạt. Cổ phần hóa là giải pháp trọng tâm nhằm đa dạng hóa sở hữu. Biện pháp này huy động thêm nguồn vốn đầu tư từ xã hội. Nhà nước cũng áp dụng hình thức giao, bán, khoán hoặc cho thuê doanh nghiệp quy mô nhỏ. Sáp nhập và hợp nhất giúp mở rộng quy mô, tận dụng lợi thế công nghệ và nhân lực. Ngược lại, giải thể và phá sản áp dụng cho các cơ sở thua lỗ kéo dài mất khả năng thanh toán. Mỗi hình thức phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp cụ thể, bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn nhà nước.

II. Thực trạng sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Quảng Bình

Thực tiễn sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại Quảng Bình ghi nhận nhiều kết quả khả quan. Các doanh nghiệp sau cổ phần hóa như Vận tải Ôtô, Cơ Điện nông nghiệp đều có sự bứt phá về lợi nhuận. Doanh thu bán hàng tăng trưởng ổn định qua từng năm. Nghĩa vụ nộp ngân sách địa phương được hoàn thành vượt mức. Đời sống và thu nhập của người lao động được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp nhà nước tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Quy mô phần lớn các đơn vị còn nhỏ lẻ, phân tán. Cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất phần nhiều đã lạc hậu. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường tự do còn yếu kém. Tình trạng nợ đọng dây dưa và tồn đọng tài chính chưa được xử lý triệt để. Bộ máy quản lý ở một số đơn vị chậm thích nghi cơ chế mới. Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu kỹ năng thương trường hiện đại. Những tồn tại này làm giảm hiệu quả chung của toàn bộ khu vực doanh nghiệp công ích.

2.1. Kết quả tích cực sau quá trình đổi mới sở hữu

Các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa tại Quảng Bình đạt tăng trưởng ấn tượng. Tỷ suất lợi nhuận sau chuyển đổi tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ trước. Doanh thu của Công ty Cơ khí và Xây dựng công trình cùng nhiều đơn vị khác liên tục mở rộng. Tình trạng nợ đọng tài chính từng bước được tháo gỡ an toàn. Doanh nghiệp chủ động trích lập quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng sản xuất. Thu nhập bình quân của người lao động tăng đều đặn qua các quý. Quyền làm chủ tập thể của người lao động được phát huy thực chất. Vai trò giám sát của tổ chức Đảng và Công đoàn được duy trì chặt chẽ.

2.2. Những điểm nghẽn và tồn tại cần khắc phục ngay

Quá trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh vẫn gặp nhiều lực cản. Tiến độ thực hiện tại một số đơn vị còn chậm so với kế hoạch đề ra. Việc định giá tài sản và đất đai gặp nhiều vướng mắc pháp lý phức tạp. Một số doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ, công nghệ cũ kỹ, khó thu hút nhà đầu tư. Tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ sau chuyển đổi ở vài doanh nghiệp còn quá cao. Điều đó hạn chế quyền tham gia quản trị của cổ đông chiến lược bên ngoài. Chính sách giải quyết chế độ cho lao động dôi dư chưa đồng bộ. Nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho công nhân còn hạn hẹp.

III. Giải pháp đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, tỉnh Quảng Bình cần thực hiện đồng bộ nhóm giải pháp chiến lược. Thứ nhất, chính quyền địa phương cần hoàn thiện quy hoạch sắp xếp doanh nghiệp giai đoạn mới. Việc phân loại doanh nghiệp phải thực hiện minh bạch và bám sát thực tế thị trường. Thứ hai, tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa tại các đơn vị sản xuất dịch vụ. Nhà nước chỉ nên giữ cổ phần chi phối ở các ngành hạ tầng huyết mạch. Thứ ba, các doanh nghiệp phải chủ động tái cấu trúc tài chính và xử lý nợ đọng dứt điểm. Việc thoái vốn ngoài ngành cần triển khai công khai qua đấu giá thị trường. Thứ tư, đơn vị cần đổi mới công nghệ và đầu tư máy móc hiện đại. Đổi mới quản trị theo chuẩn mực tiên tiến là yêu cầu bắt buộc. Cơ chế tiền lương phải gắn liền với kết quả kinh doanh và năng suất lao động cá nhân. Thứ năm, tỉnh phải giải quyết tốt chính sách lao động dôi dư. Đào tạo lại nguồn nhân lực giúp người lao động nhanh chóng thích nghi môi trường mới.

3.1. Đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước

Cổ phần hóa là giải pháp then chốt để đổi mới căn bản mô hình doanh nghiệp. Tỉnh Quảng Bình cần xây dựng lộ trình bán vốn nhà nước công khai, minh bạch. Việc xác định giá trị doanh nghiệp phải sát với giá trị tài sản thị trường. Địa phương cần khuyến khích các đối tác chiến lược có năng lực tài chính tham gia. Quá trình chào bán cổ phần cần tiến hành rộng rãi qua sàn giao dịch. Các đơn vị kinh doanh nhỏ không cần nắm giữ vốn nên chuyển sang giao hoặc bán khoán. Phương thức này giúp thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Nguồn tiền thu về sẽ phục vụ tái đầu tư cơ sở hạ tầng trọng điểm.

3.2. Hoàn thiện mô hình quản trị và xử lý lao động

Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp đòi hỏi sự chuyển biến sâu sắc về năng lực điều hành. Doanh nghiệp cần xây dựng bộ máy quản trị tinh gọn, linh hoạt và chịu trách nhiệm rõ ràng. Tiêu chuẩn tuyển chọn lãnh đạo phải dựa trên năng lực và hiệu quả thực thi. Hệ thống kiểm soát nội bộ cần vận hành độc lập để ngăn ngừa rủi ro tài chính. Song song với đó, chính sách an sinh cho người lao động cần được đặt lên hàng đầu. Tỉnh cần thành lập quỹ hỗ trợ giải quyết chế độ cho công nhân dôi dư. Địa phương chủ động mở các lớp đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu xã hội. Người lao động được bảo đảm quyền lợi thỏa đáng.

IV. Kết luận và định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước Quảng Bình

Sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Quảng Bình là chủ trương chiến lược mang ý nghĩa sống còn. Quá trình chuyển đổi giúp loại bỏ các cơ sở kinh doanh yếu kém và tối ưu hóa nguồn lực công. Doanh nghiệp sau tái cơ cấu đã nâng cao rõ rệt hiệu quả sản xuất và mức đóng góp ngân sách. Đời sống cán bộ, công nhân viên và người lao động địa phương ngày một cải thiện. Tuy nhiên, nhiệm vụ tái cơ cấu trong giai đoạn tiếp theo vẫn đặt ra nhiều thách thức to lớn. Địa phương cần kiên định mục tiêu tinh gọn và minh bạch hóa hoạt động của khối doanh nghiệp công. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành là yếu tố quyết định thắng lợi của tiến trình này. Doanh nghiệp phải chủ động đón đầu xu thế công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách tại Quảng Bình. Các giải pháp đề xuất có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển kinh tế địa phương.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong công tác triển khai

Thực tiễn tại Quảng Bình mang lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Sự chỉ đạo nhất quán từ cấp ủy và chính quyền giữ vai trò then chốt. Công tác tuyên truyền phải tạo được sự đồng thuận cao từ người lao động. Khâu kiểm kê tài sản và đánh giá tài chính đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối. Việc lựa chọn phương thức chuyển đổi phải căn cứ đúng vào năng lực thực tế của từng đơn vị. Lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cần được cân bằng thỏa đáng. Công tác thanh tra, giám sát sau cổ phần hóa phải diễn ra thường xuyên nhằm hạn chế thất thoát tài sản chung.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng cho các địa phương tương đồng

Mô hình sắp xếp doanh nghiệp tại Quảng Bình có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều tỉnh thành khác. Các địa phương cần xây dựng tiêu chí sàng lọc doanh nghiệp một cách khoa học. Quá trình xử lý tài sản công phải bảo đảm tính công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường. Việc thu hút cổ đông chiến lược tư nhân cần đi đôi với cam kết bảo đảm việc làm. Chính quyền cần bố trí nguồn vốn thỏa đáng cho công tác giải quyết lao động dôi dư. Ngoài ra, việc bồi dưỡng năng lực quản trị doanh nghiệp hiện đại cho đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ lâu dài cần được duy trì liên tục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt các giải pháp thúc đẩy quá trình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh quảng bình hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế Nhiều thành phần và hội nhập Quốc tế 1. Lý luận chung về Doanh nghiệp nhà nước 1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, quan trọng nhất nhưng không phải đồng nhất và đồng nghĩa với kinh tế nhà nước. Do vậy phải điểm lại các quan niệm về doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Trên thế giới, khi nghiên cứu hoặc đề xuất phương án cải cách doanh nghiệp nhà nước, các học giả có quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước, các định nghĩa pháp lý và học thuật về doanh nghiệp nhà nước của các quốc gia khác nhau cũng rất khác nhau. ở nước ta quan niệm về doanh nghiệp nhà nước qua các thời kỳ đổi mới quản lý cũng đã thay đổi rất nhiều và rất nhiều học giả, nhà quản lý đôi khi lẫn lộn giữa khái niệm doanh nghiệp nhà nước với các khái niệm gần nghĩa khác dẫn đến hiểu sai lệch về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước và cuối cùng dẫn đến cách thức tổ chức quản lý, đổi mới doanh nghiệp nhà nước có sự khác nhau giữa các ngành, các địa phương. Trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước (trước đây gọi là xí nghiệp quốc doanh) chiếm vai trò độc tôn trong nền kinh tế, đó là những doanh nghiệp hạch toán kinh tế theo nguyên tắc thu đủ, chi đủ, bao cấp (Trung Quốc gọi là cơ chế ăn nồi cơm chung, Liên Xô cũ gọi là cơ chế chi phí). Về mặt sở hữu, đó là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn 100%, trực tiếp quản lý.

5 Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc chuyển đổi (cải cách, đổi mới) cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước luôn là vấn đề trung tâm. Kết quả là các doanh nghiệp nhà nước không những thay đổi về nguyên tắc hoạt động, cơ chế quản lý và hạch toán mà còn thay đổi cả cơ cấu sở hữu, phát triển một số hình thức đan xen sở hữu hoàn toàn mới. Chính vì vậy, Luật doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày 20/4/1995 (lần đầu tiên ở Việt Nam) đã đưa ra khái niệm có tính pháp lý về doanh nghiệp nhà nước như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý [1].

Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã có một vai trò rất quan trọng trong việc củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước, góp phần tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tính định hướng xã hội của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua còn nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh yếu, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như những yếu kém về trình độ quản lý, công nghệ thiết bị lạc hậu. trong đó, có một nguyên nhân quan trọng là những vướng mắc về thể chế, chính sách tổ chức quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước làm cho khu vực doanh nghiệp này thiếu tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, sau khi Luật doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực thi hành, đã có nhiều văn bản liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung được ban hành như Luật doanh nghiệp, Luật thuế, Luật thương mại.

Trong đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp được đổi mới 6 hơn so với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và tiến tới hình thành một mặt bằng pháp lý chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2004, khẳng định: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn" [15]. Phân loại doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có thể được xem xét phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: Xét theo mức độ sở hữu, doanh nghiệp nhà nước có hai loại: Loại doanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu vốn duy nhất là Nhà nước; loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó nhà nước nắm giữ một phần sở hữu nhất định.

Xét theo mục tiêu kinh tế - xã hội, doanh nghiệp nhà nước được chia thành: doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích); doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (hoạt động kinh doanh) [8], [7]. Căn cứ vào sự khác nhau về địa vị pháp luật, doanh nghiệp nhà nước có thể chia thành ba loại: - Doanh nghiệp nhà nước do chính phủ trực tiếp quản lý, không có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập: loại doanh nghiệp nhà nước có nguồn vốn từ ngân sách của các cơ quan chủ quản thuộc chính phủ và các đại biểu chính phủ tham gia vận hành kinh tế mà chủ yếu là các xí nghiệp liên quan đến quốc kế dân sinh như y tế, giao thông công cộng, điện nước, bưu chính, đường sắt, sản 7 xuất vũ khí. Hiện nay, loại doanh nghiệp nhà nước này không còn thấy nhiều ở các nước. - Doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về nhà nước: Đây là các doanh nghiệp nhà mà toàn bộ tài sản do nhà nước đầu tư và có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập.

ở các nước trên thế giới loại hình doanh nghiệp này thường thuộc các lĩnh vực công cộng, lấy việc phục vụ xã hội làm mục tiêu cơ bản, như: đường sắt, bưu chính, điện, khí, ga, nước sạch. Loại doanh nghiệp nhà nước này là những thực thể kinh tế được lập ra và kinh doanh dựa vào một pháp quy cụ thể nào đó của nhà nước, đồng thời lệ thuộc vào cơ quan quản lý của nhà nước, tuy có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập, đồng thời có quyền tự chủ kinh doanh nhất định trong phạm vi đã xác định nhưng các doanh nghiệp này đều phải lấy một mục tiêu nào đó của Nhà nước làm tôn chỉ hoạt động kinh doanh và chấp hành sự điều tiết kinh tế và quản lý nhất định của Chính phủ. - Doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và Nhà nước nắm quyền sở hữu một phần tài sản: phần lớn ở các nước tư bản, doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp là hình thức chủ yếu nhất trong mọi loại hình doanh nghiệp nhà nước. Đặc điểm lớn nhất của loại doanh nghiệp nhà nước này là nhà nước tham dự cổ phần, nhờ đó có thể khống chế chúng.

Nhưng doanh nghiệp nhà nước loại này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc của doanh nghiệp tư nhân, thu lợi nhuận kinh doanh qua cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, đồng thời, bằng chế độ tham dự, nhà nước có thể triển khai các hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước bao gồm những công trình cơ sở hạ tầng như ngân hàng, đường sắt, đường bộ, vận tải biển và cũng có thể triển khai mở rộng vào các ngành công nghiệp mới. Doanh nghiệp nhà nước theo chế độ nhà nước tham dự ngày càng tỏ ra là loại hình doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả nhất [9], [10]. Dựa theo cấp độ quản lý, doanh nghiệp nhà nước được chia thành: 8 - Doanh nghiệp nhà nước địa phương (doanh nghiệp địa phương): là những doanh nghiệp chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh. - Doanh nghiệp nhà nước Trung ương (doanh nghiệp Trung ương): là những doanh nghiệp vừa chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh cũng đồng thời chịu sự quản lý và chi phối trực tiếp trực tiếp của các cơ quan quản lý cấp trên theo ngành dọc như các Tổng công ty (Tổng công ty Điện lực), các liên hiệp xí nghiệp (liên hiệp xí nghiệp đường sắt), các Cục, Tổng cục… 1.

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước mà nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước và hệ thống thể chế kinh tế vĩ mô luôn được xác định là hai công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân, dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: Doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất quan trọng, góp phần để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy phân bố lại dân cư theo hướng công nghiệp hóa, hình thành các trung tâm kinh tế văn hóa, đô thị mới, trang bị lại kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và tạo thêm điều kiện hạ tầng để phát triển đất nước. Nhờ liên tục đổi mới hệ thống chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung, đã bước đầu hình thành đòn 9 bẩy thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế khác liên doanh với doanh nghiệp nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ