Luận văn thạc sĩ: Lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa - Hoàng Anh Đào, ĐH Thái Nguyên

Luận văn nghiên cứu lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa, phân tích các giá trị nội dung, phong tục tập quán và thi pháp nghệ thuật dân ca Tày.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Tác giả

Hoàng Anh Đào

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa

Luận văn Thạc sĩ tại Đại học Thái Nguyên nghiên cứu lượn slương của người Tày như một hiện tượng văn hóa tổng thể. Lượn slương là tiếng hát giao duyên đằm thắm. Nó gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cư dân vùng cao. Thể loại này gắn liền với các bản làng ven thung lũng và triền núi. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa giúp giải mã các giá trị chiều sâu. Công trình kế thừa hệ thống lý thuyết văn hóa học đương đại của UNESCO và các học giả uy tín. Tác giả khảo sát kho tàng dân ca Tày một cách hệ thống và khoa học. Văn bản lượn slương không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy. Đây là bức tranh chân thực về tập quán, tín ngưỡng và đạo đức cộng đồng. Điệu lượn đóng vai trò như sợi dây kết nối con người với tự nhiên và xã hội. Di sản này làm phong phú thêm diện mạo văn hóa dân gian Việt Nam. Luận văn mang lại cái nhìn toàn diện về vẻ đẹp nhân văn sâu sắc của lượn slương.

1.1. Nguồn gốc và không gian diễn xướng lượn slương

Lượn slương ra đời từ môi trường sinh hoạt cộng đồng của người Tày. Từ "slương" trong tiếng Tày có nghĩa là thương, là yêu. Lời ca cất lên trong những đêm hội xuân, ngày hội Lồng tồng và tiệc cưới. Không gian diễn xướng thường diễn ra tại nhà sàn hoặc bến nước đầu làng. Thanh niên nam nữ đối đáp qua từng lời ca tha thiết. Họ tìm hiểu tính nết và trao gửi ước mơ lứa đôi. Môi trường tự nhiên miền núi phía Bắc tạo nên âm hưởng mộc mạc và vang vọng. Diễn xướng lượn slương đòi hỏi sự ứng tác nhanh nhạy và tài hoa của nghệ nhân. Cuộc lượn kéo dài thâu đêm suốt sáng trong sự đón nhận nồng nhiệt của dân làng.

1.2. Vị trí thể loại trong kho tàng dân ca người Tày

Kho tàng dân ca Tày vô cùng phong phú và đa dạng. Nó bao gồm nhiều thể loại như Then, phong slư, lượn cọi, lượn nàng Hai. Trong hệ thống đó, lượn slương giữ vị trí đỉnh cao về giá trị trữ tình. Thể loại này tập trung thể hiện trọn vẹn thế giới nội tâm con người. Lời thơ lượn slương giàu chất tự sự và triết lý sống. Lượn slương là tiếng nói khao khát tự do yêu đương mãnh liệt. Nó phá vỡ những rào cản khắt khe của lễ giáo phong kiến cũ. Tác phẩm phản ánh chân thực nếp nghĩ và thuần phong mỹ tục của đồng bào Tày. Giá trị nghệ thuật của thể loại này luôn trường tồn qua thời gian.

II. Phân tích lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa

Luận văn tại Đại học Thái Nguyên phân tích sâu sắc các bình diện nội dung và nghệ thuật của lượn slương. Lời ca phản ánh chân thực môi trường tự nhiên, bản làng và tập quán canh tác của cư dân nông nghiệp. Đồng thời, lượn slương thể hiện rõ quan niệm nhân sinh, đạo lý làm người và tinh thần hiếu học. Mối quan hệ lứa đôi trong lời hát luôn đề cao lòng chung thủy và đức hy sinh. Bên cạnh vẻ đẹp văn hóa, nghiên cứu chỉ rõ những thách thức lớn trong thời kỳ hội nhập. Không gian văn hóa truyền thống của người Tày đang biến đổi nhanh chóng. Các đêm lượn thâu đêm suốt sáng tại nhà sàn dần thưa vắng. Thế hệ trẻ chịu tác động mạnh từ các phương tiện giải trí hiện đại. Số lượng nghệ nhân am hiểu trọn vẹn bài bản lượn slương ngày càng già yếu và giảm sút. Nhiều khúc lượn cổ đứng trước nguy cơ thất truyền nghiêm trọng. Sự mai một này đe dọa trực tiếp bản sắc văn hóa phi vật thể của cộng đồng. Đây là vấn đề thực tiễn đòi hỏi giải pháp bảo tồn khoa học và đồng bộ.

2.1. Giá trị biểu đạt tâm thức và phong tục tộc người

Lượn slương chứa đựng hệ thống biểu tượng nghệ thuật phong phú và đặc sắc. Các hình tượng hoa bjooc, trầu mjầu hay tiếng ve sầu mèng ngoảng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Hình ảnh hoa quế, bướm ong tượng trưng cho tình yêu thuần khiết và thanh tao. Qua lời ca, người Tày gửi gắm quan niệm về lòng trung hiếu và tình nghĩa xóm giềng. Lời lượn còn miêu tả sinh động các nghi lễ nông nghiệp như lễ hội Lồng tồng xuống đồng. Lễ mừng Lẩu Then cũng được khắc họa rõ nét qua câu chữ. Lời thơ phản ánh sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người với thiên nhiên rừng núi. Từng câu hát là một bài học đạo đức nhẹ nhàng và sâu lắng.

2.2. Nguy cơ mai một di sản trước nhịp sống hiện đại

Quá trình đô thị hóa nông thôn miền núi diễn ra rất nhanh chóng. Cấu trúc làng bản truyền thống dần thay đổi diện mạo. Nhà sàn bê tông dần thay thế nhà sàn gỗ truyền thống. Không gian sinh hoạt văn hóa dân gian theo đó bị thu hẹp phạm vi. Lớp thanh niên người Tày ngày nay thường đi làm ăn xa tại các khu công nghiệp. Họ ít có cơ hội tiếp xúc với lời lượn slương cổ truyền. Ngôn ngữ tiếng Tày trong sinh hoạt đời thường có xu hướng suy giảm ở thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, các nghệ nhân cao tuổi đang dần qua đời mà chưa kịp truyền dạy hết vốn liếng. Sự đứt gãy mạch truyền thừa đặt di sản lượn slương trước nguy cơ mai một nghiêm trọng.

III. Phương pháp bảo tồn lượn slương của người Tày hiệu quả

Luận văn tại Đại học Thái Nguyên kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu liên ngành hiện đại. Tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học. Phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu nghệ nhân và phân tích văn bản được thực hiện kỹ lưỡng. Từ kết quả khảo sát thực địa, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn thiết thực. Trước hết, công tác số hóa tư liệu âm thanh và văn bản chữ Nôm Tày cần được đẩy mạnh. Việc ghi hình, thu âm các nghệ nhân giúp lưu giữ trọn vẹn hồn cốt điệu lượn. Thứ hai, chính quyền địa phương cần khôi phục không gian văn hóa trong các dịp lễ hội Lồng tồng. Thứ ba, các trường phổ thông vùng cao nên đưa lượn slương vào chương trình giáo dục địa phương. Thành lập câu lạc bộ dân ca là cách tiếp cận hiệu quả với thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, chính sách tôn vinh và hỗ trợ nghệ nhân là yếu tố quyết định. Bảo tồn di sản phải gắn chặt với phát triển du lịch cộng đồng bền vững.

3.1. Số hóa tư liệu và khôi phục môi trường diễn xướng

Số hóa là giải pháp cấp bách nhằm bảo vệ di sản lượn slương trước thời gian. Ngành văn hóa cần sưu tầm, ghi âm và ghi hình các bài bản lượn cổ. Các văn bản chữ Nôm Tày cần được phiên âm, dịch nghĩa và chú giải chi tiết. Dữ liệu số hóa nên được lưu trữ trên nền tảng trực tuyến phục vụ nghiên cứu cộng đồng. Đồng thời, việc tái tạo không gian diễn xướng có ý nghĩa sống còn. Các buổi sinh hoạt hát lượn tại nhà sàn truyền thống cần được khuyến khích tổ chức thường xuyên. Lễ hội xuân Lồng tồng phải là môi trường tự nhiên cho thanh niên trổ tài đối đáp. Khi điệu lượn có đất diễn, di sản sẽ tự tái sinh và phát triển bền vững.

3.2. Truyền dạy học đường và gắn với du lịch cộng đồng

Đưa di sản lượn slương vào học đường là bước đi chiến lược và đúng đắn. Các trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần mở câu lạc bộ dân ca. Nghệ nhân địa phương được mời trực tiếp giảng dạy làn điệu và ý nghĩa lời ca. Học sinh vừa rèn luyện tiếng mẹ đẻ vừa thêm yêu cội nguồn văn hóa quê hương. Bên cạnh đó, mô hình du lịch cộng đồng mang lại nguồn sinh kế thiết thực cho người dân. Khách du lịch đến các bản làng Tày rất hứng thú lắng nghe điệu lượn bên bếp lửa. Hoạt động biểu diễn phục vụ du khách tạo nguồn thu nhập cho nghệ nhân và cộng đồng bản địa. Cách làm này biến di sản văn hóa thành động lực phát triển kinh tế địa phương.

IV. Kết luận về lượn slương của người Tày và giá trị ứng dụng

Luận văn Thạc sĩ tại Đại học Thái Nguyên khẳng định giá trị trường tồn của lượn slương. Công trình làm sáng tỏ cấu trúc nội dung và nét đẹp thi pháp của làn điệu dân ca độc đáo. Lượn slương phản ánh sâu sắc tâm hồn thuần hậu, cốt cách nhân văn và bản sắc người Tày. Về phương diện học thuật, nghiên cứu cung cấp hệ thống tư liệu tin cậy và giàu giá trị tham khảo. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có thêm cơ sở khoa học để đào sâu chuyên môn. Về phương diện thực tiễn, kết quả luận văn hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý văn hóa cơ sở. Chính quyền các cấp có thể vận dụng luận điểm để xây dựng chính sách bảo tồn hiệu quả. Đồng thời, di sản này mở ra hướng đi triển vọng cho du lịch văn hóa bền vững. Việc giữ gìn lượn slương góp phần nâng cao niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Tiếng hát lượn slương sẽ tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng người Tày trên chặng đường phát triển mới.

4.1. Đóng góp học thuật của luận văn Đại học Thái Nguyên

Luận văn tạo dấu ấn học thuật rõ nét tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên. Tác giả vận dụng thành công lý thuyết văn hóa học vào việc phân tích tác phẩm văn học dân gian. Công trình không chỉ dừng lại ở khảo sát câu từ hay nhạc điệu. Nghiên cứu đi sâu giải mã tầng sâu ý nghĩa văn hóa, phong tục và tâm thức tộc người. Hệ thống tư liệu điền dã trong luận văn có độ tin cậy và tính xác thực cao. Luận văn trở thành tài liệu tham khảo quý báu cho giảng viên, học viên chuyên ngành Văn học Việt Nam. Đề tài mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới mẻ cho các nghiên cứu văn hóa dân gian về sau.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong phát triển du lịch di sản

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho định hướng phát triển du lịch. Các địa phương vùng Việt Bắc có thể xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm lượn slương. Du khách được hòa mình vào không gian nhà sàn và lắng nghe câu hát giao duyên. Việc kết hợp lượn slương với du lịch sinh thái tạo nên nét đặc trưng hấp dẫn. Hoạt động này vừa quảng bá văn hóa bản địa vừa tạo việc làm ổn định cho cư dân. Người dân địa phương thêm trân trọng và tự hào về di sản của tổ tiên. Di sản phi vật thể được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế giàu tiềm năng. Đây là hướng đi bền vững để bảo tồn văn hóa trong thời kỳ hội nhập.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/10/2026
Lượn slương của người tày dưới góc nhìn văn hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY 1. Ca dao, dân ca 1. Khái niệm Từ bao đời nay, ca dao, dân ca Việt Nam đã chiếm một phần quan trọng không thể thay thế trong đời sống sinh hoạt cũng như đời sống tinh thần của người Việt Nam. Nghiên cứu ca dao, dân ca không chỉ để trân quý hơn những nét đẹp truyền thống văn hóa của người Việt mà còn làm nổi bật giá trị của tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha ẩn chứa trong kho tàng ca dao, dân ca của dân tộc.

Về khái niệm ca dao, dân ca, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau; trong đó, có một số quan niệm phổ biến sau: Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, "ca dao là thơ ca dân gian được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Ca dao là thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát" [20; tr. Tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng: "Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững trong phong cách. Và ca dao đã thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian" [15; tr.

Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi) viết: "Ca dao còn gọi phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ 12 những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu.

Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca". Các tác giả Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam thì cho rằng: "Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán - Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca" [13; tr. Phần lời nói đầu của cuốn sách Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: dân ca là “những bài hát ngâm hay kể bằng văn vần, hoặc độc lập, hoặc kèm theo nhạc, điệu múa, trò chơi, hoặc tự một người thể hiện hay một tập thể cùng tham gia.

Đó là những bài ngắn dăm bảy câu đến hàng trăm, hàng ngàn câu hát cắt ra từng khúc từng đoạn” [27, tr 28]. Trong cuốn Tục ngữ và dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan biên soạn, in lần đầu năm 1956, đến 1978 in lại và đổi tên là Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam), tác giả Vũ Ngọc Phan có nêu: ca dao dùng để chỉ bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ sở phần lời trong các loại dân ca ngắn và tương đối ngắn; dân ca là toàn bộ các hình thức ca hát trữ tình dân gian, “bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát” [19; tr. Sách giáo khoa Ngữ văn 7, (Nguyễn Khắc Phi, chủ biên) còn phân biệt rõ hai thể loại này: "Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn xướng. Ca dao là lời thơ của dân ca.

Khái niệm ca dao còn được dùng để chỉ một thể thơ dân gian - thể ca dao" [21; tr. Từ những cách hiểu trên, có thể khái quát lại: Ca dao, dân ca là khái niệm dùng để chỉ những sáng tác trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm 13 của con người. Ca dao là phần lời của dân ca, là những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca. Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc - là những câu hát dân gian trong diễn xướng.

Phân loại Cũng giống như dân ca các dân tộc thiểu số khác trên đất nước Việt Nam, dân ca Tày thể hiện rất rõ nét những đặc trưng riêng biệt của văn hóa dân tộc. Dân ca dân tộc Tày góp phần vào bức tranh nhiều màu sắc của văn học dân gian Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về dân ca Tày, trước hết hãy tìm hiểu khái quát về cách phân loại dân ca của các dân tộc thiểu số. Chúng tôi đã khảo sát các công trình nghiên cứu của các tác giả về phân loại dân ca các dân tộc thiểu số và thu thập được những thông tin như sau: Năm 1975, tác giả Lê Chí Quế phân loại dân ca trong bài Việc phân loại dân ca các dân tộc ở miền Bắc nước ta [23, tr 54-77] đây là bài viết đầu tiên đề cập đến việc phân loại dân ca các dân tộc thiểu số.

Tác giả Lê Chí Quế đã lập bảng phân chia dân ca các dân tộc Dao, H’Mông, Mường, Nùng, Tày, Thái thành ba loại: Dân ca lao động, Dân ca nghi lễ - phong tục và Dân ca sinh hoạt. Trong mỗi loại, căn cứ vào hình thức diễn xướng của chúng trong đời sống, tác giả có sự phân chia nhỏ hơn. Tác giả Phan Đăng Nhật đã căn cứ vào “phạm vi hoạt động đời sống” trong mối quan hệ với sinh hoạt dân ca để chia dân ca các thiểu số thành bốn bộ phận: Dân ca nghi lễ và phong tục, Dân ca giao duyên, Hát ru, Hát vui chơi với trẻ con [16, tr 108]. Tác giả Võ Quang Nhơn thì lại chia dân ca dân tộc thiểu số thành ba bộ phận: Dân ca lao động, Dân ca nghi lễ - phong tục (gồn có năm tiểu loại nhỏ hơn: các bài ca nông lễ, các bài ca hôn lễ, các bài ca tang lễ, các bài hát chúc 14 mừng, các bài ca tục lệ), Dân ca sinh hoạt (gồm hát ru, hát vui chơi, giao duyên) [18, tr 212].

Trong cuốn sách Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 17, Trần Thị An cũng khẳng định rằng: dân ca dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng, phong phú, đa dạng của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Các tác giả trong cuốn sách phân chia dân ca thiểu số thành các bộ phận: Dân ca lao động, Dân ca nghi lễ, Dân ca trữ tình sinh hoạt. Trong đó, dân ca lao động là các lời hát nhằm bày tỏ tình cảm của người hát trong môi trường lao động và các bài hát nông lịch; Dân ca nghi lễ là các lời hát của con người khi họ thực hiện các nghi lễ như đám cưới, đám tang, dám cầu mùa, chúc tụng.; dân ca trữ tình sinh hoạt là các bài hát diễn tả các hoạt động của cuộc sống hàng ngày như ru con, vui chơi hoặc bày tỏ tình cảm đối với quê hương đất nước [2; tr. Theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, ông dựa trên mức độ gắn bó của dân ca với các lĩnh vực sinh hoạt chính của đời sống nhân dân là sinh hoạt lao động, sinh hoạt nghi lễ, sinh hoạt gia đình và xã hội [9; tr.

324 - 356] để phân ra làm ba tiểu loại: dân ca lao động, dân ca nghi lễ, dân ca sinh hoạt. Sự phân chia này là chung cho dân ca của người Việt và cả dân ca của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Như vậy, có thể khẳng định dân ca Tày cũng là một bộ phận không thể tách rời dân ca các dân tộc thiểu số, do đó, chúng tôi đồng tình với cách phân loại của các tác giả trong cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam tập 17 và cách phân loại của Chu Xuân Diên, coi đây là cơ sở để nghiên cứu về lượn slương của người Tày. Tức là, dân ca Tày gồm ba tiểu loại: Dân ca lao động, dân ca nghi lễ, dân ca sinh hoạt.

Trong ba tiểu loại: Dân ca lao động, dân ca nghi lễ, dân ca sinh hoạt thì các nhà nghiên cứu gọi dân ca sinh hoạt bằng nhiều tên gọi khác nhau: 15 Chu Xuân Diên gọi là dân ca trữ tình; Lê Chí Quế gọi là dân ca trữ tình sinh hoạt và Trần Thị An gọi là dân ca sinh hoạt. Các tên gọi tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng về căn bản, chúng đều là những bài dân ca nói về lao động, tình yêu đôi lứa, đời sống gia đình và xã hội, có nội dung “thể hiện quan hệ giao lưu tình cảm giữa các thành viên trong cộng đồng (cộng đồng gia đình và cộng đồng xã hội). Chúng tôi đồng tình với cách gọi của tác giả Lê Chí Quế, tức gọi tiểu loại ấy là dân ca trữ tình sinh hoạt và coi đây là cơ sở để nghiên cứu về lượn slương - một bộ phận của dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày. Lượn slương - Một bộ phận của dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày Trong cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 17, nhà nghiên cứu Trần Thị An đã sắp xếp tư liệu dân ca trữ tình sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số theo ba chủ đề là dân ca nghi lễ, dân ca lao động và dân ca sinh hoạt, tương ứng với cấp độ tiểu loại.

Riêng đối với tiểu loại dân ca sinh hoạt, tác giả chia nhỏ thành ba tiểu chủ đề sau: Một là, Tình yêu quê hương đất nước; Hai là, Quan hệ gia đình - xã hội (bao gồm hai nhóm là quan hệ gia đình và họ hàng, quan hệ xã hội. Trong nhóm bài ca về quan hệ gia đình và họ hàng có ba nhóm là: tình cảm gia đình và họ hàng, hát ru, khuyên răn); Ba là, Tình yêu lứa đôi (bao gồm sáu nhóm bài hát là: chào mời; tỏ lòng; nỗi nhớ; thở than, trách móc; ao ước, thề thốt; li biệt) [2; tr. Cũng về sự phân loại dân ca của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhà nghiên cứu Lê Chí Quế chia dân ca các dân tộc thiểu số thành ba tiểu loại: dân ca lao động, dân ca nghi lễ phong tục, dân ca trữ tình sinh hoạt. Riêng dân ca trữ tình sinh hoạt, tác giả phân thành hai nhóm là hát đối đáp và hát đơn.

Chúng tôi nhận thấy, sự phân loại dân ca dân tộc thiểu số của cả hai tác giả Lê Chí Quế và Trần Thị An đều có cơ sở và đúng đắn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Hoàng Anh Đào (2023), Lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Hoàng, A. Đ. (2023). Lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/luon-sluong-cua-nguoi-tay-duoi-goc-nhin-van-hoa-dh-thai-nguyen/9443787763
IEEE
A. Đ. Hoàng, "Lượn slương của người Tày dưới góc nhìn văn hóa," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2023. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/luon-sluong-cua-nguoi-tay-duoi-goc-nhin-van-hoa-dh-thai-nguyen/9443787763

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác