Mở đầu, chƣơng 1, chƣơng2, chƣơng 3, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Chƣơng 3: Định hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 7 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1. Lý luận pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 1.
Khái niệm pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Công tác quản lý và sử dụng đất đai luôn đƣợc Nhà nƣớc ta chú trọng nhằm đạt hiệu quả, tiết kiệm và đúng quy định pháp luật. Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ( sau đây gọi chung là giấy chứng nhận) là một trong những nội dung quản lý đất đai của nhà nƣớc nhằm đảm bảo trật tự và hiệu quả trong quá trình sử dụng đất. Khái niệm về thu hồi theo từ điển tiếng Việt định nghĩa thu hồi là việc “ thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác”1. Đối với đất đai, do quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân, do Nhà nƣớc là đại diện.
Nhà nƣớc thống nhất quản lý đất đai và thực hiện các thủ tục để cấp giấy chứng nhận cho ngƣời sử dụng đất nhằm xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp của họ. Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý ( Bộ Tƣ pháp) thì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”2. Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ hơn: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài 1 Từ điển diếng Việt (2004), NXB Đà Nẵng 2 Viện Khoa học Pháp lý ( 2006), Từ điển Luật học, trang 302, Nxb Tƣ pháp và Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 8 sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất3.
Dù có nhiều quan điểm nhƣng điểm chung cho thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thƣ pháp lý do Nhà nƣớc cấp cho ngƣời sử dụng đất để công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của họ là hợp pháp và là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền của ngƣời sử dụng đất. Qua đó cho chúng ta thấy thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại chứng thư pháp lý đã cấp cho người sử dụng đất. Lý do để thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có nhiều lý do trong đó có thể là lỗi của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có thể do lỗi của ngƣời sử dụng đất hoặc do phải thực hiện các trƣờng hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất xảy ra do nhiều lý do khác nhau nhƣ: thu hồi do thực hiện các quy định về thu hồi đất dẫn đến thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thu hồi do lỗi của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có thể do lỗi của ngƣời sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất.
Nhƣ vậy, việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất xảy ra không chỉ có yếu tố lỗi của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hay của ngƣời sử dụng đất do vi phạm pháp luật đất đai mà còn có nguyên nhân từ việc quản lý, khai thác và sử dụng đất. 33 Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 9 Thứ hai, việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nƣớc có chức năng quản lý đất đai theo quy định của pháp luật. Thứ ba, Khi thực hiện thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải đƣợc thực hiện theo quy định về trình tự, thủ tục nhằm đảm bảo đúng quy định pháp luật và bảo vệ quyền lợi của ngƣời sử dụng đất cũng nhƣ trật tự quản lý của Nhà nƣớc. Thứ tư, trƣờng hợp thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ngƣời sử dụng đất có thể đƣợc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nƣớc không cấp lại.
Các trƣờng hợp này phụ thuộc vào tính chất của vụ việc thu hồi giấy chứng nhận trong trƣờng hợp nào?. Thứ năm, việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là thu hồi chứng thƣ pháp lý đã cấp cho ngƣời sử dụng đất và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngƣời sử dụng đất. Nhƣ vậy, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một trong những hoạt động quản lý nhà nƣớc về đất đai đất gắn liền với lợi ích của Nhà nƣớc nên pháp luật quy định ngày càng cụ thể để quyền năng của Nhà nƣớc đƣợc đảm bảo thực hiện trong việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói riêng và trong quản lý đất đai nói chung. Pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất một là một bộ phận của pháp luật đất đai nó bao gồm các quy phạm pháp luật đất đai do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thu hồi, cấp lại, sửa đổi, đính chính quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Do vậy, pháp luật thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thể định nghĩa nhƣ sau: 10 Pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành về nguyên tắc, đối tượng, trình tự, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận; thẩm quyền, tổ chức, hoạt động của cơ quan Nhà nước khi thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Qua việc phân tích pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho thấy đây là các quy phạm do Nhà nƣớc ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội giữa một bên là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và bên kia là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bị thu hồi giấy chứng nhận. Đây là nhóm quan hệ xã hội thể hiện sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các bên, thể hiện tính quyền uy phục tùng với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc ban hành mệnh lệnh thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Nguyên tắc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất liên quan đến quyền tài sản và tài sản thuộc sở hữu của ngƣời sử dụng đất vì gắn với đất đai và tài sản trên đất, đó không những là tƣ liệu sản xuất mà còn là sự gắn kết xã hội giữ Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng đất.
Chính lẽ đó, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cần phải dựa trên các nguyên tắc nhƣ sau: Thứ nhất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải trên cơ sở quy định của pháp luật về đất đai.