ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi bò là một ngành sản xuất có từ lâu đời và chủ yếu của các hộ nông dân ở nước ta. Việc phát triển chăn nuôi bò ở vùng nông thôn không những tạo ra các sản phẩm có giá trị cho đời sống con người như thịt, da. mà còn cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp lượng phân chuồng khá lớn giúp cải tạo đất, làm đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững; góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (lao động, đất đai, vốn, …) và tăng thu nhập cho nông hộ. Đối với một tỉnh duyên hải miền Trung như tỉnh Quảng Bình, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng còn thấp kém, sản xuất nông nghiệp còn manh mún và chưa hiệu quả thì chăn nuôi bò là nguồn sinh kế chính của nhiều hộ nông dân.
Trong xu thế hội nhập đầy khó khăn như hiện nay, vấn đề làm sao để chăn nuôi bò đem lại hiệu quả cao với người nông dân nói chung và với nông dân Quảng Bình nói riêng là rất cần thiết. Tỉnh Quảng Bình nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam, với diện tích tự nhiên 8.065,3 km2, dân số năm 2015 có 872. Địa hình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông, 85% tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành bốn vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển.
Vùng cát ven biển tỉnh Quảng Bình kéo khoảng 116 km dài từ Quảng Đông (Quảng Trạch), đến Ngư Thuỷ Nam (Lệ Thuỷ), đi qua 18 xã ven biển, trong đó diện tích lớn tập trung ở 2 huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh. Trong bốn vùng sinh thái của tỉnh thì vùng cát được xem là vùng còn hoang sơ chưa được khai thác một cách đầy đủ so với tiềm năng vốn có. Việc sử dụng hợp lý và hữu hiệu điều kiện tự nhiên để phát triển chăn nuôi bò sẽ mang lại một nguồn lợi đáng kể cho kinh tế địa phương nói chung và kinh tế hộ nói riêng, nhất là những hộ nông dân nghèo. Hơn nữa, chăn nuôi bò là một loài vật nuôi hoàn toàn không cạnh tranh lương thực với con người, cũng là một ngành sản xuất phù hợp ở vùng cát của tỉnh Quảng Bình nơi có điều kiện sản xuất lương thực còn gặp nhiều khó khăn.
Việc phát triển chăn nuôi bò thịt của nông hộ ở vùng cát ven biển chịu nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, kỹ thuật.ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng đàn bò tại đây. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là xác định cho được thực trạng phát triển chăn nuôi bò, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò, từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu, có tính khả PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 thi để phát triển chăn nuôi bò ở địa phương, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho các nông hộ đồng thời góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở vùng cát của tỉnh Quảng Bình là nhiệm vụ rất cấp bách và có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trên cơ sở đó, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt trong nông hộ ở vùng cát ven biển tỉnh Quảng Bình”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi bò của nông hộ ở vùng cát tỉnh Quảng Bình - Tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt - Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt trong nông hộ PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Nông hộ và kinh tế nông hộ Nông hộ là hình thức tổ chức kinh tế cơ bản trong nông nghiệp. Có nhiều quan niệm khác nhau về hộ, có ý kiến cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” [12]. Quan điểm này có thiên hướng nhấn mạnh đến chức năng kinh tế, xem hộ như là một đơn vị kinh tế, sản xuất tiêu dùng trong xã hội.
Tuy nhiên, quan điểm khác lại cho rằng: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” [15]. Quan điểm này thiên về tính huyết thống, những người vừa có chung huyết thống vừa có quan hệ kinh tế với nhau. Tổng hợp các khái niệm về “hộ” có thể hiểu: Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung và cùng tiến hành sản xuất chung. Như vậy có sự phân biệt khác nhau giữa hộ và gia đình.
Điểm khác nhau căn bản đó là gia đình là nhóm người cùng huyết tộc và gia đình là một loại hình hộ cơ bản. Qua nhiều nghiên cứu khác nhau người ta đã nêu khái quát một số khái niệm về nông hộ như sau: “Nông hộ (hộ nông dân) là gia đình sống bằng nghề nông, được kể là một đơn vị về mặt chính quyền”[11]. Hộ nông dân là một đơn vị sản xuất cơ bản. Theo Traianop, hộ nông dân là đơn vị sản xuất “rất ổn định” và là “phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”[11].
Hộ nông dân có những đặc trưng riêng biệt, nó có một cơ chế vận hành khá đặc biệt, không giống như những đơn vị kinh tế khác. Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ. Do đó, ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Nông hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà ở các đơn vị khác không thể có được.
Bản thân mỗi nông hộ là một tế bào của xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng: đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng trong sinh hoạt. Hộ nông dân còn có quan hệ trực tiếp với tộc họ và xóm thôn. Trường hợp di chuyển đến nơi khác thì tiếp tục quan hệ với xóm thôn tại nơi cư trú. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Trong cộng đồng cư dân nông thôn thì nông hộ được nhắc tới như là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập, có hoạt động sinh kế chủ yếu bằng nghề nông nghiệp.
Qua nhiều nghiên cứu khác nhau người ta đã khái quát được các đặc trưng về nông hộ như sau: Thứ nhất là đất đai: Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt hộ nông dân với những người lao động không có đất hoặc với công nhân đô thị. Ruộng đất của nông dân là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố khác vì giá trị của nó. Đất là nguồn lực đảm bảo đời sống lâu dài của nông dân và là một bộ phận về vị trí xã hội của gia đình trong phạm vi làng xã hay cộng đồng. Thứ hai là lao động: Lao động là một đặc tính nổi bật của người nông dân, do tính tự nguyện, tự giác cao và tận dụng tối đa khả năng của mỗi người trong lao động mà mỗi thành viên trong nông hộ đều làm việc hết sức mình để có được thu nhập cao trong gia đình và vì lợi ích của mỗi người.
Thứ ba là tiền vốn và sự tiêu dùng: Trong nông hộ không có sự phân biệt giữa lợi nhuận từ doanh thu với tiền công lao động của hộ. Từ đó có thể thấy rằng sản xuất và tiêu dùng của nông hộ là khó có thể tách rời, nó khác với đặc điểm của nền sản xuất tư bản và các doanh nghiệp khác là làm chủ vốn đầu tư và tích lũy cũng như hoàn vốn dưới dạng lợi nhuận. Thứ tư là sản xuất nhỏ và manh mún: Kinh tế hộ gia đình nông dân nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp, tự túc hoặc có sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp. Thứ năm, hộ là một đơn vị kinh tế độc lập tự chủ: Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, hộ được sử dụng ruộng đất lâu dài và có quyền tự quyết trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hộ có quyền làm chủ về quản lý, quyền quản lý tối cao là bố mẹ hoặc những người có uy tín trong gia đình, một loại hình đặc biệt mà không doanh nghiệp nào có được, đó là khẳng định cho sự trường tồn của kinh tế hộ. Hộ có quyền tự mình định đoạt trong quan hệ phân phối về những sản phẩm sản xuất ra sau khi đã trừ đi các chi phí sản xuất. Do quan hệ gia đình chi phối nên lợi ích kinh tế thường thống nhất, ít nảy sinh mâu thuẫn phức tạp, nếu có cũng dễ giải quyết hơn các loại hình kinh tế khác. Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng hộ nông dân là một đơn vị xã hội có chung một cơ sở kinh tế, chung một ngân quỹ, ăn chung và sống chung dưới một mái nhà.
Hộ nông dân có những đặc trưng riêng, khác với các thành phần kinh tế khác. Cần phải hiểu rõ những đặc trưng ấy nhằm vận dụng thành công vào việc phát triển kinh tế nói chung cũng như sản xuất chăn nuôi bò của nông hộ. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 2. Vai trò và ý nghĩa kinh tế của ngành chăn nuôi bò đối với nông hộ 2.
Chăn nuôi bò cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị Ngành chăn nuôi bò có vai trò rất lớn trong việc cung cấp các thực phẩm có giá trị cho đời sống của con người. Thịt bò là một loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, chứa nhiều khoáng chất, vitamin và axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể con người. Thịt bò hiện nay được coi là “thịt đỏ”, nghĩa là loại thịt có hàm lượng dinh dưỡng cao, một loại thực phẩm cao cấp có dồi dào lượng protein, sắt và kẽm. Thịt bò có hàm lượng kẽm gấp 11 lần so với cá ngừ và gấp 3 lần hàm lượng sắt so với cải bó xôi.