Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp tại vùng đồng bằng duyên hải miền Trung đang trải qua giai đoạn chuyển đổi cơ cấu mạnh mẽ nhằm nâng cao giá trị gia tăng và thích ứng với tình trạng thiếu hụt lao động nông thôn. Tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 72% diện tích tự nhiên, trong đó đất canh tác lúa đạt 4.786,72 ha. Trước làn sóng dịch chuyển lao động sang các khu vực công nghiệp như Khu kinh tế Dung Quất và Khu công nghiệp VSIP, tỷ lệ lao động nông nghiệp toàn huyện đã giảm từ 77% năm 2013 xuống còn 71% năm 2015. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh cơ giới hóa nhằm bảo đảm thời vụ và nâng cao năng suất cây trồng.

Tuy nhiên, việc tăng cường đầu tư cho máy móc cơ giới và chi phí vật tư nông nghiệp đang tạo áp lực tài chính không nhỏ đối với các nông hộ, trong khi giá bán lúa thương phẩm chưa thực sự ổn định. Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của cơ giới hóa đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ tại vùng đồng bằng huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mục tiêu chính bao gồm đánh giá hiện trạng trang bị, mức độ áp dụng máy móc qua các khâu canh tác, phân tích cấu trúc chi phí - doanh thu và đo lường tác động của cơ giới hóa đến thu nhập thực tế của người dân.

Nghiên cứu được triển khai tại 02 xã đại diện là Tịnh Sơn và Tịnh Trà trong khoảng thời gian từ tháng 8/2015 đến tháng 3/2016, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 kết hợp điều tra thực địa năm 2015. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ trang bị động lực làm đất bình quân đạt 3 HP/ha và chi phí cơ giới hóa tăng từ 2,54 triệu đồng lên 3,06 triệu đồng/hộ/năm. Đề tài mang lại ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi chứng minh cơ giới hóa giúp tối ưu hóa chi phí ngày công, gia tăng lãi ròng thêm 2,89 triệu đồng/ha/năm, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết chuyển đổi công nghệ nông nghiệp của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), phân loại quá trình cơ giới hóa qua ba nấc thang phát triển: cơ giới hóa bộ phận (áp dụng máy móc vào từng khâu nặng nhọc riêng lẻ), cơ giới hóa đồng bộ (liên kết hệ thống máy móc trong toàn bộ chuỗi sản xuất) và tự động hóa. Bên cạnh đó, khung phân tích tích hợp lý thuyết hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật trong kinh tế nông nghiệp, trong đó hiệu quả kinh tế phản ánh mức tăng giá trị sản phẩm dựa trên việc tối ưu hóa các yếu tố đầu vào với chi phí thấp nhất.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: cơ giới hóa sản xuất lúa (việc đưa thiết bị động lực thay thế sức người và sức kéo động vật trong các khâu từ làm đất đến bảo quản), dịch vụ cơ giới hóa (hình thức tổ chức cung ứng máy móc phục vụ sản xuất), giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), lãi gộp (thu nhập hỗn hợp chưa trừ công lao động gia đình) và lãi ròng (lợi nhuận thuần túy sau khi khấu trừ toàn bộ chi phí tiền mặt lẫn giá trị ngày công tự có). Nghiên cứu cũng căn cứ vào các văn bản pháp lý quan trọng như Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp và Nghị quyết số 10/2013/NQ-HĐND tỉnh Quảng Ngãi về hỗ trợ dồn điền đổi thửa giai đoạn 2013 - 2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp lại với quy mô 120 hộ nông dân canh tác lúa tại huyện Sơn Tịnh. Địa bàn khảo sát được chia đều cho 02 xã đại diện: 60 hộ tại xã Tịnh Sơn (khảo sát tại thôn Phước Lộc Đông và Phước Lộc Tây) đại diện cho vùng có mức độ cơ giới hóa cao; 60 hộ tại xã Tịnh Trà (khảo sát tại thôn Phú Thành và Khánh Mỹ) đại diện cho vùng có tiến trình cơ giới hóa chậm hơn. Tiêu chí chọn mẫu phân tầng rõ rệt giữa nhóm hộ chuyên thuê dịch vụ cơ giới hóa và nhóm hộ tự trang bị phương tiện kết hợp làm dịch vụ nông thôn.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Sơn Tịnh và báo cáo chuyên môn của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2013 - 2015. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp tại hộ gia đình và các buổi thảo luận nhóm tập trung. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm Excel để thống kê mô tả (tính toán số bình quân, tỷ lệ cơ cấu phần trăm, tốc độ tăng trưởng) nhằm phác họa hiện trạng máy móc. Phương pháp phân tích kinh tế so sánh kết hợp kiểm định T-Test được lựa chọn để xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chi phí, doanh thu và lãi ròng giữa hai nhóm hộ. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm loại bỏ các yếu tố nhiễu ngoại cảnh, kiểm chứng chính xác tác động định lượng thuần túy của mức độ cơ giới hóa đến lợi nhuận ròng của nông hộ. Timeline nghiên cứu thực địa diễn ra liên tục trong 8 tháng (từ tháng 8/2015 đến tháng 3/2016).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ cơ giới hóa giữa các khâu sản xuất lúa có sự chênh lệch và thiếu đồng bộ nghiêm trọng. Khâu làm đất và xay xát đạt tỷ lệ cơ giới hóa tuyệt đối 100% trên toàn bộ diện tích 8.273 ha gieo trồng của huyện Sơn Tịnh (với 646 máy làm đất, đạt công suất 3 HP/ha). Khâu thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt tỷ lệ bình quân 80% toàn huyện (riêng xã Tịnh Sơn đạt 100%, xã Tịnh Trà đạt 85%). Trong khi đó, các khâu gieo sạ, chăm sóc, phun thuốc bảo vệ thực vật và phơi sấy sau thu hoạch vẫn duy trì tỷ lệ cơ giới hóa 0%, phụ thuộc hoàn toàn vào lao động thủ công và bình bơm tay mang vai.

Thứ hai, việc ứng dụng máy móc tạo ra sự phân hóa rõ nét về chi phí đầu tư và cơ cấu lợi nhuận. Hộ nông dân tại xã Tịnh Sơn chi cho cơ giới hóa ở hai khâu làm đất và thu hoạch bình quân cao hơn hộ dân tại xã Tịnh Trà là 0,48 triệu đồng/ha/năm. Do phát sinh chi phí dịch vụ cao hơn nên lãi gộp của hộ dân xã Tịnh Sơn thấp hơn xã Tịnh Trà 0,36 triệu đồng/ha/năm. Tuy nhiên, khi tính toán toàn diện mọi chi phí, lãi ròng thu được từ sản xuất lúa của hộ dân Tịnh Sơn lại cao hơn Tịnh Trà tới 2,89 triệu đồng/ha/năm nhờ giảm thiểu tối đa số ngày công lao động gia đình nặng nhọc.

Thứ ba, tỷ trọng thu nhập từ sản xuất lúa trong tổng thu nhập kinh tế hộ suy giảm liên tục qua các năm. Trong giai đoạn 2013 - 2015, dù chi phí đầu tư cho cơ giới hóa của mỗi hộ tăng từ 2,54 triệu đồng lên 3,06 triệu đồng/năm, thu nhập thuần từ lúa lại sụt giảm từ 14,06 triệu đồng xuống 13,38 triệu đồng/năm. Thu nhập từ trồng lúa bình quân toàn mẫu chỉ đạt 10,529 triệu đồng/hộ/năm, chiếm tỷ trọng khiêm tốn 9,8% trong tổng thu nhập bình quân 106,525 triệu đồng/hộ/năm (xếp sau ngành chăn nuôi chiếm 34% và làm công nhân chiếm 21,6%).

Thứ tư, phần lớn nông hộ phụ thuộc hoàn toàn vào các đơn vị dịch vụ cơ giới hóa tư nhân. Toàn huyện chỉ có 60 máy gặt đập liên hợp (đạt mật độ 1,3 chiếc/100 ha), giá trị mỗi máy dao động từ 180 triệu đến 500 triệu đồng, vượt quá khả năng tài chính của hộ gia đình nhỏ lẻ. Do đó, có tới 99,5% hộ dân tại xã Tịnh Sơn và 82% hộ dân tại xã Tịnh Trà phải đi thuê dịch vụ thu hoạch bên ngoài với chi phí trung bình khoảng 170.000 đồng cho mỗi sào 500 m2.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về lãi ròng của các hộ dân tại xã Tịnh Sơn bắt nguồn từ việc ứng dụng triệt để máy gặt đập liên hợp thay thế phương pháp thu hoạch đa giai đoạn thủ công. Việc tích hợp đồng thời các khâu cắt, gom, tuốt hạt và đóng bao ngay trên đồng ruộng đã rút ngắn thời gian thu hoạch xuống chỉ còn 10 - 15 phút cho mỗi sào ruộng, đồng thời giảm thất thoát hạt thóc từ 3% đến 5% so với cách gặt liềm truyền thống. Việc giảm thiểu số công lao động thủ công đã tạo điều kiện cho các thành viên gia đình chuyển hướng sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp với mức tiền công cao hơn.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp tại các vùng đồng bằng duyên hải, kết quả này khẳng định cơ giới hóa khâu thu hoạch mang tính chất quyết định đến việc giải phóng sức lao động nông thôn. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay là tình trạng ruộng đất còn manh mún, bình quân mỗi hộ canh tác diện tích từ 4.690 m2 đến 6.893 m2 nhưng bị chia cắt thành nhiều thửa nhỏ, hệ thống mương máng và đường nội đồng chưa hoàn thiện làm hạn chế hiệu suất vận hành của các loại máy cày lớn 30 - 50 HP.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô tả trực quan và sinh động thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa chi phí cơ giới hóa và mức chênh lệch lãi ròng giữa hai địa phương, kết hợp bảng cơ cấu các nguồn thu nhập sinh kế để làm nổi bật sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế hộ từ trồng trọt sang công nghiệp và dịch vụ nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa, các giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa và hoàn thiện hạ tầng giao thông nội đồng. Ủy ban nhân dân huyện Sơn Tịnh cần chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã tập trung quy hoạch lại đồng ruộng, mở rộng diện tích các ô thửa lên mức tối thiểu từ 1.500 m2 đến 2.000 m2 mỗi thửa, đồng thời nâng tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương và đường giao thông trục chính nội đồng lên trên 60% vào năm 2020 theo đúng tinh thần Nghị quyết số 10/2013/NQ-HĐND của tỉnh Quảng Ngãi.

Thứ hai, mở rộng gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ nông dân mua sắm máy nông nghiệp công suất lớn. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp huyện triển khai giải ngân vốn vay theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg, hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu tiên nhằm giúp các hộ dân tiếp cận máy gặt đập liên hợp và máy kéo trên 30 HP, phấn đấu nâng mật độ máy gặt đập liên hợp từ 1,3 chiếc lên 3,0 chiếc/100 ha canh tác trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ ba, củng cố và chuyên nghiệp hóa mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã dịch vụ cơ giới hóa. Hội Nông dân và Liên minh Hợp tác xã tỉnh hỗ trợ thành lập các tổ dịch vụ cơ giới khép kín tại các xã, tiến hành ký kết hợp đồng dịch vụ trọn gói từ làm đất đến thu hoạch, công khai khung giá cước chuẩn nhằm hạ giá thuê dịch vụ xuống từ 5% đến 10% so với giá thuê tư nhân tự phát trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ tư, chuyển giao công nghệ cơ giới hóa ở các khâu còn bỏ ngỏ. Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp Trạm Khuyến nông huyện xây dựng các mô hình trình diễn máy gieo sạ hàng dạng hạt, thiết bị phun thuốc bảo vệ thực vật công suất cao và lắp đặt hệ thống lò sấy tĩnh vỉ ngang quy mô 10 - 20 tấn/mẻ, đặt mục tiêu đưa tỷ lệ cơ giới hóa khâu gieo cấy đạt 30% và khâu sấy lúa đạt 25% vào năm 2020 nhằm cắt giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới mức 2%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp và lãnh đạo chính quyền địa phương: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng máy móc cơ giới tại cơ sở, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách dồn điền đổi thửa, xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và hoàn thiện tiêu chí nông thôn mới cấp huyện, xã.

Ban giám đốc các Hợp tác xã nông nghiệp và chủ cơ sở dịch vụ cơ giới: Giúp nắm bắt nhu cầu thực tế của thị trường, tham khảo bài toán hạch toán kinh tế giữa chi phí đầu tư thiết bị và mức thu hồi vốn, từ đó xây dựng phương án kinh doanh dịch vụ làm đất, thu hoạch lúa đạt hiệu quả tài chính tối ưu.

Các nông hộ canh tác lúa tại khu vực duyên hải: Giúp người nông dân hiểu rõ bản chất của việc phân bổ chi phí tiền mặt và giá trị ngày công gia đình, từ đó chủ động lựa chọn phương thức thuê dịch vụ máy gặt đập liên hợp để tối ưu hóa lợi nhuận ròng và giải phóng thời gian cho các công việc phi nông nghiệp khác.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp: Là tài liệu học thuật giá trị cung cấp khung phân tích vi mô về kinh tế nông hộ, phương pháp điều tra mẫu 120 quan sát và kỹ thuật phân tích thống kê so sánh có kiểm định thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chi phí cho cơ giới hóa tăng nhưng thu nhập từ sản xuất lúa của hộ dân lại có xu hướng giảm? Nguyên nhân là do giá cả các loại vật tư đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và giá thuê dịch vụ tăng liên tục, trong khi giá bán lúa không tăng. Thêm vào đó, diện tích đất canh tác bình quân của hộ dân có xu hướng giảm nhẹ và ảnh hưởng của thiên tai khiến tổng thu nhập thực tế từ lúa giảm từ 14,06 triệu xuống 13,38 triệu đồng/hộ.

Cơ giới hóa khâu thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp mang lại lợi thế gì so với thu hoạch thủ công? Máy gặt đập liên hợp giúp thu hoạch nhanh gấp 10 đến 15 lần so với làm thủ công, chỉ mất khoảng 10 - 15 phút cho mỗi sào ruộng 500 m2. Phương pháp này giảm tỷ lệ hao hụt thóc từ 3% đến 5%, giảm áp lực thiếu nhân công ngày mùa và giúp nâng cao lãi ròng thêm 2,89 triệu đồng/ha/năm nhờ tiết kiệm công lao động.

Vì sao tỷ lệ cơ giới hóa các khâu gieo sạ, chăm sóc và phơi sấy tại huyện Sơn Tịnh vẫn ở mức 0%? Do tập quán canh tác gieo sạ vãi truyền thống của nông dân, kết hợp với địa hình đồng ruộng còn chia cắt nhỏ lẻ khiến các công cụ sạ hàng khó vận hành. Ngoài ra, chi phí đầu tư lò sấy công nghiệp khá lớn và thời tiết mùa thu hoạch vụ Hè Thu thường có nắng nhiều nên người dân tận dụng phơi thủ công để tiết kiệm chi phí.

Sự khác biệt căn bản giữa lãi gộp và lãi ròng trong đánh giá hiệu quả sản xuất lúa là gì? Lãi gộp là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và chi phí tiền mặt thực tế bỏ ra, chưa bao gồm công lao động gia đình. Trong khi đó, lãi ròng phản ánh chính xác hiệu quả kinh tế cuối cùng khi đã tính đủ toàn bộ chi phí vật tư và giá trị quy đổi của ngày công lao động tự có do các thành viên trong gia đình đóng góp.

Nông hộ có quy mô canh tác nhỏ dưới 5.000 m2 nên tự mua máy hay thuê dịch vụ cơ giới hóa? Các hộ sản xuất quy mô nhỏ nên chọn giải pháp thuê dịch vụ cơ giới hóa bên ngoài. Do giá thành máy gặt đập liên hợp rất cao (từ 180 đến 500 triệu đồng) nên việc tự đầu tư sẽ dẫn đến thời gian thu hồi vốn kéo dài, không hiệu quả về mặt tài chính bằng việc chi trả phí dịch vụ theo từng mùa vụ.

Kết luận

Những kết luận quan trọng được đúc kết từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Mức độ cơ giới hóa khâu làm đất và xay xát đạt 100%, khâu thu hoạch đạt 80 - 100%, tuy nhiên khâu gieo sạ, chăm sóc và phơi sấy hoàn toàn chưa được cơ giới hóa (0%).
  • Ứng dụng máy gặt đập liên hợp giúp nâng cao năng suất lao động, giảm tổn thất mùa vụ và giúp tăng lãi ròng của nông hộ thêm 2,89 triệu đồng/ha/năm.
  • Có tới trên 94% nông hộ sản xuất lúa phải phụ thuộc vào việc thuê dịch vụ cơ giới bên ngoài do rào cản chi phí đầu tư mua sắm máy móc ban đầu quá lớn.
  • Tỷ trọng thu nhập từ cây lúa chỉ đóng góp 9,8% trong tổng cơ cấu thu nhập 106,525 triệu đồng/hộ/năm, thúc đẩy xu hướng chuyển dịch lao động sang lĩnh vực công nghiệp - xây dựng.
  • Tình trạng ruộng đất phân tán, quy mô ô thửa nhỏ và tiến độ dồn điền đổi thửa còn chậm là rào cản cốt lõi hạn chế việc đưa các máy móc công suất lớn vào đồng ruộng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công mối quan hệ giữa chi phí cơ giới hóa và lợi nhuận ròng thực tế của nông hộ, cung cấp căn cứ thực tiễn tin cậy cho công tác quản lý nông nghiệp địa phương. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến năm 2020, địa phương cần đẩy mạnh hoàn thành quy hoạch dồn điền đổi thửa và thành lập các tổ hợp tác dịch vụ cơ giới chuyên trách. Các nhà quản lý, cán bộ khuyến nông và nông hộ quan tâm hãy đón đọc toàn văn tài liệu để áp dụng hiệu quả vào mô hình sản xuất thực tế tại địa phương.