Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm Khái niệm luật tục được rất nhiều nhà khoa học bàn luận, với từng quan điểm của mỗi một người lại đưa ra một khái niệm về luật tục riêng. Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Luật tục là toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, chứa đựng những tiêu chí về đạo đức, luân lý, cách ứng xử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ” [18]. Theo Từ điển luật học, “Luật tục là phong tục tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, tuân theo trong mối quan hệ với nhau.
Luật tục thể hiện bao quát, phong phú các mối quan hệ xã hội truyền thống, ít thay đổi và hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, kể cả ở nhiều nước phát triển” [1]. Theo từ điển bách khoa Việt Nam, “Luật tục là toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ” [7]. Theo một định nghĩa chung nhất và được nhiều nhà khoa học đồng thuận, “Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa hình thành trong lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên.
Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó đã cải tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng, luật tục như hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và hình thức sơ khai của luật pháp” [17]. Như vậy, có thể hiểu Luật tục được thể hiện qua các tri thức bản địa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của một cộng đồng được hình thành trong lịch sử lâu dài và được PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 các cá nhân trong cộng đồng thực hiện tự nguyện. Là giải pháp ứng xử trong quan hệ nội bộ cộng đồng cũng như với môi trường tự nhiên mà con người đang sống. Nội dung của luật tục có tính tổng hợp bao hàm những chuẩn mực xã hội và hàng loạt những khía cạnh cụ thể, củng cố tính thống nhất và quan hệ cộng đồng của dân làng; nó có tác dụng chuẩn mực trong khuôn mẫu ứng xử và lề lối sinh hoạt xã hội, xác lập hệ thống tôn ti trật tự chung, chế định các mối liên hệ của con người trong quan hệ xã hội.
Các luật tục đề cập đến nhiều mặt trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, như: Quan hệ gia đình (quan hệ hôn nhân, quan hệ nam nữ, cha mẹ với con cái, ly hôn.); Quan hệ cộng đồng (các vi phạm lợi ích cộng đồng, về trật tự an ninh xã hội, không tôn trọng phong tục tập quán…); Về tài sản và sở hữu (quan hệ sở hữu, khai hoang đất và quyền sở hữu ruộng đất, về của cải tài sản, giải quyết nợ nần, gia súc, đất đai…); Những tội phạm về tình dục (tội hoang dâm, loạn luân, những điều cấm kỵ…); Những quy định chung về luật tục (các quy định về các tội và việc xét xử, các điều tổng quát, kết thúc một vụ án…); Về việc xâm phạm đến tính mạng (xâm phạm thân thể, tính mạng của người khác, các trọng tội, các tội giết người…); Về vai trò của người đứng đầu làng (tội xúc phạm đến già làng, trưởng thôn, về quan hệ các thủ lĩnh…). Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này tôi chỉ xem xét các luật tục trong mối quan hệ với quản lý tài nguyên rừng.2 Luật tục và tri thức bản địa Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức bản địa, như trong cuốn “Luật tục của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Tri, Thừa Thiên Huế” tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã dẫn chứng rằng: “Tri thức bản địa (hay kiến thức địa phương, kiến thức truyền thống): là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng tại một địa vực cư trú cụ thể xác định; nó được hình thành từ trong thực tiễn quá trình lao động sản xuất và ứng xử với môi trường tự nhiên xã hội của các thành viên trong cộng đồng; nó được hoàn thiện dần và truyền từ đời này sang đời khác bằng truyền khẩu trong gia đình, làng bản qua hình thành ca hát, ngạn ngữ, trường ca, tập tục…; nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định của địa phương” [11]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Theo tác giả Lê Trọng Cúc: “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được hình thành dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội.
Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên” [4]. Như vậy, tri thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên được kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng người. Luật tục về cơ bản là một hình thức thể hiện của tri thức bản địa, tri thức địa phương của các tộc người. Tri thức bản địa được coi là luật tục khi những tri thức bản địa đó mang tính ràng buộc hoặc có sự xuất hiện của các chế tài xử lý vi phạm.
Hay những tri thức bản địa đóng vai trò là giá trị chuẩn mực, điều tiết mọi quan niệm, hành vi ứng xử đối với từng cá nhân, nhóm người để dung hòa phù hợp với mục đích cộng đồng liên quan đến hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên… cũng được coi là luật tục. Có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề tri thức bản địa và luật tục trong quản lý tài nguyên, điển hình có bài viết “Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: Một trong những giá trị nổi bật của các dân tộc thiểu số là những tri thức bản địa của nhân dân về quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên, ở đó con người và tự nhiên gắn bó hữu cơ, con người là một bộ phận không thể tách rời tự nhiên. Luật tục với những tri thức bản địa về môi trường và cách thức quản lý, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ nguyên giá trị tích cực của nó [20].3 Luật tục và tín ngưỡng Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, cái hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” [21].
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Tác giả Nguyễn Đặng Duy cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [6]. Như vậy, có thể hiểu đơn thuần tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Hay tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” (còn gọi là cái “thiêng”). Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con người, nó ra đời tồn tại và phát triển cùng với loài người, nó là một nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần… Ở khá nhiều trường hợp, các điều luật tục được hiểu nghĩa tương đương với những tín ngưỡng của nhóm tộc người trên một địa bàn cư trú nhất định.
Các yếu tố luật tục được hiện hữu và có sự ràng buộc trong việc thực hành các tín ngưỡng, lễ nghi, qua đó có thể nhận ra những quan niệm, quan điểm cùng trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc về thần linh, thế giới siêu nhiên và xã hội con người, chu trình vòng đời người và ứng xử của con người với thực tại khách quan. Trong xã hội bộ lạc xưa kia, đồng bào các dân tộc gặp nhau ở cùng một niềm tin sâu sắc về sự tồn tại của thế giới thần linh và linh hồn. Tín ngưỡng phản ánh trong luật tục qua hình ảnh của các vị thần, bằng cách “thiêng hóa” các tài nguyên. Họ cho rằng các tài nguyên như: đất, rừng, sông suối, cây cối… đều có yếu tố thần linh, do các vị thần cai quản.
Do đó, dẫn đến việc hình thành những quy định về ứng xử dưới áp lực tâm lý bởi sự trừng phạt của các vị thần.4 Luật tục và pháp luật Luật tục và pháp luật cùng tồn tại trong xã hội với cùng một mục đích là điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều hoà các quan hệ nảy sinh nên giữa luật tục và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật được thể hiện trên một số nét lớn sau [28]: - Về cơ sở tồn tại và mục đích điều chỉnh: Luật tục và pháp luật là những yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, đều bị quy định bởi cơ sở kinh tế nhất định trên nền tảng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 kinh tế xã hội phù hợp.