Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 14 triệu ha rừng, chiếm trên 40% diện tích tự nhiên và là không gian sinh tồn của 25 triệu người thuộc 53 dân tộc thiểu số. Tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, diện tích đất lâm nghiệp đạt 93.832 ha, chiếm 81,52% tổng diện tích toàn huyện với tỷ lệ che phủ rừng lên đến 73%. Đối với đồng bào dân tộc Mã Liềng tại bản Kè, xã Lâm Hóa, rừng không chỉ là nguồn sinh kế nền tảng mà còn là cội nguồn văn hóa và không gian tâm linh thiêng liêng.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội cùng các áp lực từ kinh tế thị trường đang làm suy giảm nghiêm trọng hiệu lực của hệ thống luật tục truyền thống. Đồng thời, sự thiếu tương thích giữa pháp luật lâm nghiệp nhà nước và luật tục địa phương đã tạo ra những rào cản lớn trong công tác quản lý tài nguyên. Mục tiêu của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vận hành và hiệu lực của luật tục người Mã Liềng, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất giải pháp lồng ghép luật tục vào chính sách lâm nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại bản Kè, xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa trong giai đoạn từ mốc định canh định cư năm 1993 đến năm 2014-2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế giao quyền quản lý 686,36 ha rừng cộng đồng, bảo tồn tri thức bản địa và nâng cao thu nhập bình quân của 47 hộ dân địa phương vượt ngưỡng 8 triệu đồng/người/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên khung lý thuyết quyền tài sản đối với tài nguyên dùng chung của hai học giả Edella Schlager và Elinor Ostrom công bố năm 1992. Khung phân tích này chia tách 5 cấp độ quyền sở hữu và hưởng dụng tài nguyên bao gồm: quyền tiếp cận, quyền khai thác, quyền quản lý, quyền loại trừ và quyền chuyển nhượng. Khung lý thuyết giúp làm rõ sự phân định quyền hạn giữa chủ thể nhà nước và cộng đồng bản địa trong thực tế sử dụng rừng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết thể chế phi chính thức và tri thức bản địa được phát triển bởi các nhà nghiên cứu dân tộc học trong nước. Ba khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Luật tục (hệ thống quy tắc ứng xử bất thành văn mang tính chuẩn mực và chế tài cộng đồng), Tri thức địa phương (kho tàng kinh nghiệm thích ứng sinh thái qua nhiều thế hệ), và Tín ngưỡng vạn vật hữu linh (niềm tin vào sự hiện diện của ma rừng, thần rú, ma nhà điều tiết hành vi con người). Cấu trúc xã hội phụ quyền gồm 3 dòng họ chính là Cao, Phạm và Hồ tại bản Kè đóng vai trò là khung thiết chế duy trì các chuẩn mực này.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ niên giám thống kê huyện Tuyên Hóa năm 2014 với quy mô 20.425 hộ, cùng các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của xã Lâm Hóa giai đoạn 2006-2013. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình khảo sát thực địa trong năm 2014 và hoàn thiện vào năm 2015.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả thực hiện điều tra toàn bộ 47 hộ gia đình tại bản Kè (đạt tỷ lệ mẫu 100% tổng thể) bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn nhằm đo lường mức độ tuân thủ luật tục. Phương pháp chọn mẫu chuyên gia được áp dụng để phỏng vấn sâu 14 đối tượng, gồm 10 người dân bản địa (1 già làng, 4 người cao tuổi, 1 trưởng bản, đại diện phụ nữ và thanh niên) cùng 4 cán bộ phụ trách (1 cán bộ cắm bản, 1 cán bộ kiểm lâm địa bàn, 2 cán bộ xã). Ngoài ra, nghiên cứu tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung với nhóm người am hiểu phong tục và Ban Quản lý rừng cộng đồng.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích định tính và định lượng là nhằm giải mã chiều sâu các giá trị văn hóa tâm linh không thể lượng hóa, đồng thời sử dụng phần mềm Excel xử lý số liệu thống kê mô tả để kiểm chứng tính xác thực của các nhận định.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống luật tục của người Mã Liềng thể hiện vai trò tự quản vững chắc đối với 218 nhân khẩu tại bản Kè. Các quy ước truyền thống kiểm soát nghiêm ngặt hành vi khai thác tài nguyên như cấm chặt phá rừng đầu nguồn, bảo vệ nghiêm ngặt khu vực rừng thiêng, rừng ma và quy định cụ thể mùa vụ lấy mật ong hay săn bắt thú, góp phần bảo vệ phần lớn trong tổng số 9.495,65 ha đất lâm nghiệp của toàn xã Lâm Hóa.

Thứ hai, cơ cấu giao đất giao rừng tại địa phương bộc lộ sự mất cân đối lớn về quyền quản lý. Toàn xã Lâm Hóa có 8.270,58 ha rừng đã phân định chủ thể, nhưng diện tích giao cho cộng đồng dân cư quản lý chỉ đạt 686,36 ha (chiếm 8,3%), hộ gia đình cá nhân nắm giữ 1.623,55 ha (chiếm 19,63%), trong khi các cơ quan đơn vị nhà nước chiếm tới 5.960 ha (tương đương 72,07%).

Thứ ba, hiệu lực thực thi của luật tục đang suy giảm nhanh chóng qua các thế hệ. Mức độ tuân thủ các quy tắc cấm khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã chịu tác động mạnh từ nhu cầu thương mại hóa lâm sản. Uy quyền điều hành của già làng truyền thống bị chia sẻ trước sự xuất hiện của bộ máy hành chính với trưởng bản và cán bộ kiểm lâm, khiến ranh giới thực thi quyền lực tại bản làng trở nên phức tạp.

Thứ tư, nguồn thu nhập từ rừng giữ tỷ trọng cốt lõi trong sinh kế nhưng giá trị gia tăng chưa cao. Lâm sản ngoài gỗ như mật ong tự nhiên, song mây và cây dược liệu là nguồn thu chính, song mức thu nhập bình quân của người dân bản Kè năm 2014 chỉ đạt khoảng 8 triệu đồng/người/năm, phản ánh tình trạng khai thác thô chưa qua chế biến.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm vai trò của luật tục bắt nguồn từ xung đột thể chế giữa quy định pháp luật hiện hành và tập quán địa phương. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa quy định rõ ràng quyền của cộng đồng bản địa đối với các diện tích rừng phòng hộ do nhà nước quản lý, làm triệt tiêu động lực tự giác bảo vệ rừng theo truyền thống.

Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của nhiều tác giả về cộng đồng người Cơ Tu và Giẻ Triêng tại vùng núi miền Trung, khẳng định rằng khi thiết chế già làng bị suy yếu, các vụ xâm hại tài nguyên rừng có xu hướng gia tăng. Các phát hiện nghiên cứu được trực quan hóa rõ nét qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu diện tích rừng phân theo đối tượng sử dụng (nhà nước 72,07%, hộ gia đình 19,63%, cộng đồng 8,3%), biểu đồ cột phản ánh biến động dân số người Mã Liềng từ 311 người năm 2001 lên 630 người năm 2014, cùng các bảng tổng hợp tỷ lệ phần trăm mức độ tuân thủ luật tục về khai thác lâm sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý rừng dựa trên luật tục được xây dựng với 4 nhóm hành động trọng tâm:

Thứ nhất, thể chế hóa luật tục vào hệ thống quy ước, hương ước làng bản. Tiến hành rà soát, văn bản hóa các tập quán tiến bộ của người Mã Liềng và tích hợp vào quy chế quản lý rừng cấp xã, phấn đấu hoàn thiện khung pháp lý tự quản cho 100% diện tích 686,36 ha rừng cộng đồng tại bản Kè trong giai đoạn 2016-2018. Chủ thể thực hiện là UBND huyện Tuyên Hóa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình.

Thứ hai, mở rộng hạn mức giao rừng tự nhiên cho cộng đồng bản địa. Điều chuyển tối thiểu từ 20% đến 30% diện tích rừng phòng hộ do các tổ chức nhà nước đang quản lý (tương đương khoảng 1.200 ha đến 1.800 ha) sang hình thức giao quyền quản lý tập thể cho đồng bào Mã Liềng trước năm 2020. Cơ quan chủ trì là UBND tỉnh Quảng Bình và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Thứ ba, phát triển chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ bền vững gắn với tri thức bản địa. Tổ chức các tổ hợp tác khai thác mật ong rừng tự nhiên, mây tre đan và dược liệu dưới tán rừng đạt chuẩn chất lượng, đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người của 47 hộ dân từ mức 8 triệu đồng lên 15 triệu đồng/người/năm vào năm 2020. Chủ thể triển khai là Ban Quản lý rừng cộng đồng bản Kè cùng sự hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức phát triển nông thôn.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp đồng quản lý rừng giữa già làng và lực lượng kiểm lâm. Thành lập tổ tuần tra liên ngành với sự tham gia của đại diện 3 dòng họ Cao, Phạm, Hồ cùng 2 cán bộ kiểm lâm địa bàn, duy trì tần suất tuần tra định kỳ 2 lần/tháng từ quý 1/2016 nhằm ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm lâm luật. Cơ quan điều hành trực tiếp là UBND xã Lâm Hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước như Ban Dân tộc, Cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để tham vấn sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, lồng ghép luật tục vào chính sách giao đất giao rừng cho 53 dân tộc thiểu số trên cả nước.

Nhóm thứ hai là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và các dự án bảo tồn thiên nhiên. Các đơn vị này có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm tại bản Kè để xây dựng mô hình sinh kế dựa vào cộng đồng, quản trị tài nguyên thiên nhiên thích ứng với biến đổi khí hậu cho 47 hộ dân vùng đệm.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Phát triển nông thôn, Lâm nghiệp xã hội, Quản lý tài nguyên và Nhân học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng khung lý thuyết 5 quyền tài sản của Ostrom và kỹ thuật điều tra toàn diện 100% mẫu hộ gia đình.

Nhóm thứ tư là chính quyền địa phương cấp huyện, xã và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên tại miền Trung. Nghiên cứu giúp cán bộ cơ sở hiểu rõ cơ chế vận hành của thiết chế già làng và dòng họ phụ quyền, từ đó nâng cao hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn 9.495,65 ha đất lâm nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Luật tục của người Mã Liềng bảo vệ tài nguyên rừng tự nhiên bằng những hình thức nào? Người Mã Liềng bảo vệ rừng thông qua hệ thống điều cấm và tín ngưỡng thờ ma rừng, thần rú. Rừng đầu nguồn và rừng ma tuyệt đối không được xâm phạm; việc chặt gỗ làm nhà, săn bắn thú hay lấy mật ong đều tuân theo mùa vụ và được già làng giám sát chặt chẽ nhằm bảo vệ diện tích 9.495,65 ha đất lâm nghiệp của xã.

Vì sao cần lồng ghép luật tục vào khung pháp lý quản lý rừng hiện đại? Cộng đồng bản Kè chỉ nắm giữ 8,3% diện tích rừng được giao trong khi nhà nước quản lý tới 72,07%. Việc thừa nhận luật tục giúp phát huy tri thức bản địa, giảm thiểu chi phí tuần tra của lực lượng kiểm lâm và hóa giải các xung đột quyền lợi giữa quy định nhà nước và tập quán canh tác truyền thống.

Cơ chế xử phạt vi phạm lâm luật theo tập tục của người Mã Liềng diễn ra như thế nào? Khi phát hiện hành vi chặt cây cấm hoặc xâm hại rừng thiêng, hội đồng già làng và tộc trưởng sẽ họp xét xử. Người vi phạm phải nộp phạt bằng hiện vật như gà, rượu cần, gạo nếp để làm lễ cúng tạ lỗi với thần linh và xin lỗi toàn thể dân bản, tạo áp lực dư luận ngăn chặn tái phạm.

Chính sách định canh định cư từ năm 1993 đã làm thay đổi cấu trúc xã hội bản Kè ra sao? Sau mốc định canh định cư năm 1993 và chương trình 135 từ năm 2000, người Mã Liềng chuyển về sống tập trung tại bản Kè với 47 hộ và 218 nhân khẩu. Cơ cấu xã hội truyền thống do già làng đứng đầu được bổ sung thêm bộ máy hành chính nhà nước gồm trưởng bản và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Giải pháp nào giúp nâng cao sinh kế người Mã Liềng mà không làm suy thoái rừng? Cần đẩy mạnh khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ như mật ong rừng tự nhiên và thảo dược. Việc xây dựng tổ hợp tác gắn với quy ước bản làng sẽ giúp nâng giá trị sản phẩm, từng bước đưa mức thu nhập bình quân của người dân từ 8 triệu đồng lên 15 triệu đồng/người/năm mà vẫn giữ vững độ che phủ rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về luật tục và tri thức bản địa trong quản lý rừng của dân tộc Mã Liềng.
  • Phản ánh trung thực thực trạng quản trị tài nguyên tại bản Kè với quy mô 47 hộ dân quản lý 686,36 ha rừng cộng đồng.
  • Chỉ rõ sự suy giảm hiệu lực của thiết chế truyền thống trước tác động của kinh tế thị trường và sự chồng chéo thể chế quản lý.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa pháp luật nhà nước và luật tục địa phương giai đoạn 2016-2020.
  • Khẳng định vai trò không thể thay thế của tri thức bản địa đối với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là tạo dựng luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho quá trình sửa đổi chính sách lâm nghiệp, hướng tới công nhận đầy đủ quyền quản lý rừng của cộng đồng thiểu số. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của mô hình đồng quản lý rừng tại bản Kè trong các giai đoạn tiếp theo để nhân rộng mô hình ra toàn vùng Bắc Trung Bộ.