Luận văn: Phân tích hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại CTCP May Trường Giang

Luận văn phân tích chi tiết hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty May Trường Giang. Tài liệu tham khảo cho sinh viên kinh doanh thương mại.

Chuyên ngành

Kinh doanh thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu hàng may mặc

Xuất khẩu hàng may mặc đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt tại các tỉnh phía Nam như Quảng Nam. Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc không chỉ tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn mà còn giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Công ty Cổ Phần May Trường Giang là một trong những doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực này, với nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất và xuất khẩu sản phẩm may mặc chất lượng cao. Qua giai đoạn 2018-2020, ngành may mặc đã trải qua những thăng trầm, nhưng vẫn duy trì vị trí quan trọng trong danh sách các ngành xuất khẩu chính của Việt Nam. Hiểu rõ về hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các công ty trong ngành sẽ giúp xác định chiến lược phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa và vai trò của xuất khẩu hàng may mặc

Xuất khẩu hàng may mặc là hoạt động bán hàng may mặc sang các thị trường nước ngoài, tuân thủ các quy định về hàng hóa, giấy tờ và thủ tục hải quan. Vai trò của hoạt động xuất khẩu bao gồm tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, và tạo cơ hội việc làm cho ngành dệt may. Đối với doanh nghiệp, xuất khẩu là cơ hội mở rộng thị trường và tăng doanh thu.

1.2. Thị trường xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam 2018 2020

Giai đoạn 2018-2020, thị trường xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam chứng kiến sự biến động do tác động của căng thẳng thương mại toàn cầu và đại dịch COVID-19. Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc vẫn giữ vị trí trong top các ngành xuất khẩu chính. Quảng Nam là một trong những tỉnh có đóng góp lớn trong hoạt động xuất khẩu ngành may với nhiều công ty như Trường Giang.

II. Phân tích hoạt động xuất khẩu Công ty Cổ Phần May Trường Giang

Công ty Cổ Phần May Trường Giang là một doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc có quy mô vừa tại Quảng Nam. Công ty có cơ cấu tổ chức rõ ràng với các bộ phận chuyên biệt đảm bảo chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Quy trình sản xuất của công ty tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế, từ khâu lựa chọn nguyên liệu đến kiểm chất lượng cuối cùng. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Trường Giang tập trung vào các sản phẩm may mặc cao cấp cho các thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu. Qua khảo sát giai đoạn 2018-2020, công ty đã duy trì ổn định trong các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu chính.

2.1. Giới thiệu và lịch sử phát triển công ty

Công ty Cổ Phần May Trường Giang được thành lập với mục tiêu phát triển ngành xuất khẩu hàng may mặc tại khu vực Quảng Nam. Qua những năm hoạt động, công ty đã xây dựng uy tín trên thị trường xuất khẩu quốc tế thông qua chất lượng sản phẩm và dịch vụ chuyên nghiệp. Quá trình hình thành và phát triển của Trường Giang phản ánh sự cố gắng nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành dệt may xuất khẩu.

2.2. Cơ cấu tổ chức và quy trình sản xuất

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Trường Giang bao gồm các phòng chuyên trách: Kinh doanh, Sản xuất, Kiểm chất lượng, và Xuất khẩu. Quy trình sản xuất sản phẩm tuân theo các bước: nhận mẫu, cắt vải, khâu, hoàn thiện, kiểm chất lượng, đóng gói. Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu rõ ràng giúp đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu.

III. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2018 2020

Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ Phần May Trường Giang trong giai đoạn 2018-2020 cho thấy những biến động tương đối. Kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt những con số ấn tượng, mặc dù chịu tác động từ các yếu tố bên ngoài như thương mại toàn cầu và dịch bệnh. Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty được duy trì ổn định, cho phép hoạt động sản xuất xuất khẩu liên tục. Cơ cấu lao động của công ty trong giai đoạn này có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu sản xuất. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xuất khẩu cho thấy công ty vẫn duy trì lợi nhuận xuất khẩu ở mức chấp nhận được, phản ánh khả năng quản lý và hoạt động kinh doanh hợp lý.

3.1. Kim ngạch và chỉ tiêu xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu của Trường Giang trong giai đoạn 2018-2020 cho thấy xu hướng tăng trưởng nhưng không đều định. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu theo chiều rộng như số lượng đơn hàng, số nước nhập khẩu đã được cải thiện. Cơ cấu hàng may mặc xuất khẩu của công ty tập trung vào áo sơ mi, quần âu, và áo len. Phương thức xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu trực tiếp sang các công ty phân phối.

3.2. Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế

Lợi nhuận xuất khẩu của Trường Giang duy trì ở mức ổn định, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xuất khẩu được đo lường thông qua tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong hoạt động xuất khẩu được cải thiện qua đào tạo và nâng cao kỹ năng lao động.

IV. Thách thức và cơ hội phát triển xuất khẩu hàng may mặc

Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty Cổ Phần May Trường Giang đang đối mặt với nhiều thách thức nhưng cũng sở hữu những cơ hội phát triển. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao gồm: nhu cầu thị trường biến động, cạnh tranh từ các nước khác, yêu cầu chất lượng ngày càng cao, và áp lực chi phí sản xuất. Môi trường vĩ mô như chính sách thương mại, tỷ giá hối đoái, và các hiệp định thương mại ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu mở rộng, các hiệp định FTA mới, và xu hướng tiêu dùng bền vững tạo ra những cơ hội lớn. Các yếu tố thuộc môi trường bên trong như công nghệ sản xuất hiện đại, đội ngũ nhân sự giỏi, và hệ thống quản lý chất lượng tốt là những điểm mạnh để Trường Giang tận dụng.

4.1. Thách thức trong hoạt động xuất khẩu

Thách thức chính của hoạt động xuất khẩu hàng may mặc bao gồm: cạnh tranh giá từ Bangladesh, Ấn Độ; yêu cầu tiêu chuẩn về an toàn lao động; biến động nhu cầu sau COVID-19. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh là chi phí nguyên liệu tăng, thị trường bão hòa, và khó khăn trong tìm kiếm khách hàng mới. Việc cải thiện hiệu quả hoạt động xuất khẩu đòi hỏi công ty phải liên tục đổi mới công nghệ.

4.2. Cơ hội phát triển và giải pháp

Cơ hội phát triển cho hoạt động xuất khẩu bao gồm: nhu cầu hàng may mặc chất lượng cao từ các nước phát triển; cấp hiệp định CPTPP, RCEP mở rộng thị trường xuất khẩu. Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu là đầu tư công nghệ, tăng cường kiểm chất lượng, phát triển nguồn nhân lực. Công ty cần tìm kiếm khách hàng mới ở thị trường tiềm năng và xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn.

22/12/2025
Tài liệu luận văn phân tích hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần may trường giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm xuất khẩu Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, nó không phải là hành vi bán riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao mức sống của người dân. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến.

Mở rộng xuất khẩu để tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ. (Theo Trần Chí Thành (2000)) Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng, vật liệu sản xuất, máy móc, hàng hóa thiết bị công nghệ cao.

Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng [4]. SVTH: Footer Page Huỳnh Thị Ngọc Huyền – K51A KDTM 18 of 21. 7 Header Page 19 of Khóa 21. tốt nghiệp luận GVHD: TS.

Lê Thị Phương Thanh 1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 1. Đối với doanh nghiệp Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng sản phẩm, những yếu tố đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Xuất khẩu bắt buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những về chiều rộng mà cả về chiều sâu.

Xuất khẩu còn giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận một cách nhanh chóng với các thiết bị kỹ thuật hiện đại của các nước tiên tiến và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đa dạng hoá thị trường tiêu thụ sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch bành trướng, tăng doanh số, tăng lợi nhuận. Thu hút và mở rộng sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và hoạt động ngoại thương và mang lại doanh thu cũng như là nguồn lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp. Hoạt động xuất khẩu tạo động lực để doanh nghiệp không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình, khiến cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng thị trường, khai thác được nguồn lực dư thừa trong nước, tạo nguồn thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên, giảm chi phí hoạt động nhờ mở rộng quy mô sản xuất, phân tán được rủi ro không phải kinh doanh trên một thị trường nhất định. Xuất khẩu phát huy cao tính năng động sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩu cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và mở rộng thị trường, khả năng thương lượng đàm phán để đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.

Đối với nền kinh tế Với thời buổi kinh tế hội nhập như hiện nay, muốn tồn tại và phát triển mỗi nước không thể thu mình mà cần phải mở cửa giao lưu buôn bán với nhiều quốc gia trên thế SVTH: Footer Page Huỳnh Thị Ngọc Huyền – K51A KDTM 19 of 21. 8 Header Page 20 of Khóa 21. tốt nghiệp luận GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh giới.

Trước bối cảnh đó, ngành xuất nhập khẩu đã và đang nắm giữ được vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động xuất khẩu là điều kiện cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển do đây là mắt xích đầu tiên của chuỗi cung ứng toàn cầu. Cần có hoạt động đưa hàng hóa ra nước ngoài mới có thể đáp ứng mối quan hệ cung cầu trên toàn cầu. Đây là phương pháp để giải quyết sự dư thừa hàng hóa ở vùng lãnh thổ này cũng như thiếu hụt hàng hóa ở vùng lãnh thổ khác.

Đó là vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Thông qua hoạt động xuất khẩu có thể làm tăng ngoại tệ thu được, tăng tỉ lệ giá trị trong GDP của một quốc gia, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách nhà nước, kích thích đổi mới công nghệ, tiếp cận được với những hình thức kinh doanh mới. Tạo sự cạnh tranh giữa hàng hóa nội và ngoại nhập. Ngoài ra đây là hoạt động có thể tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giúp giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống người dân.

Bên cạnh đó xuất khẩu là nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Các hình thức xuất khẩu Theo “Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu” của GS.TS Võ Thanh Thu (2011), hình thức xuất khẩu bao gồm: [1] 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt hoặc thông qua các phương tiện thông tin như thư từ, điện tín, thư điện tử,…) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả, phương thức thanh toán và các điều kiện giao dịch khác. Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu gồm 2 công đoạn: SVTH: Footer Page Huỳnh Thị Ngọc Huyền – K51A KDTM 20 of 21.

9 Header Page 21 of Khóa 21. tốt nghiệp luận GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh + Thu mua nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước; + Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng. Ưu điểm của hình thức giao dịch trực tiếp:  Giảm chi phí trung gian  Nâng cao hiệu quả của giao dịch, đàm phán.

 Thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường.  Giúp DN thiết lập, mở rộng được mối quan hệ với bạn hàng một cách tiện lợi nhanh chóng. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thì phương thức này còn có những nhược điểm:  Rủi ro lớn cho DN đối với thị trường mới, mặt hàng mới;  Khối lượng giao dịch cần phải lớn;  Chi phí tiếp thị thị trường nước ngoài cao;  Đòi hỏi có những cán bộ nghiệp vụ kinh doanh XNK giỏi. Giao dịch qua trung gian Giao dịch qua trung gian trong thương mại quốc tế là phương thức giao dịch, trong đó mọi việc kiến lập quan hệ giữa người mua và người bán và việc quy định các điều kiện giao dịch đều phải thông qua một người thứ ba.

Người thứ ba này gọi là người trung gian mua bán và được hưởng một khoản tiền nhất định. Điều 3 khoản 11 Luật TM Việt Nam năm 2005 quy định: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.” Ủy thác mua bán hàng hóa: Theo điều 155, Luật Thương mại: “Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán SVTH: Footer Page Huỳnh Thị Ngọc Huyền – K51A KDTM 21 of 21. 10 Header Page 22 of Khóa 21. tốt nghiệp luận GVHD: TS.

Lê Thị Phương Thanh hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác”. Ưu điểm của hình thức này:  Người trung gian thường hiểu biết, nắm vững thị trường, pháp luật và tập quán địa phương.  Tận dụng cơ sở vật chất của trung gian, giảm chi phí đầu tư.  Sử dụng các dịch vụ của trung gian (phân loại, đóng gói, vận chuyển, bảo hành, sửa chữa).

Tuy nhiên cũng có những mặt hạn chế như:  Công ty XNK mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường;  Vốn hay bị bên nhận đại lý chiếm dụng;  Lợi nhuận bị chia sẻ;  Phải đáp ứng những yêu sách của người trung gian. Buôn bán đối lưu (Counter – Trade) Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó XK kết hợp chặt chẽ với NK, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Ở đây mục đích của XK không phải nhằm thu ngoại tệ, mà thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương. Các bên tham gia luôn phải quan tâm đến sự cân bằng trong trao đổi hàng hóa thể hiện ở những khía cạnh sau: + Cân bằng về mặt hàng: mặt hàng quý đổi lấy mặt hàng quý, mặt hàng tồn kho khó bán đổi lấy mặt hàng tồn kho khó bán.

+ Cân bằng về điều kiện giao dịch: ví dụ, cùng giao FOB ở cảng đi và cùng giao CIF ở cảng đến. + Cân bằng về cơ sở giá cả: cùng tính cao hơn hoặc thấp hơn giá quốc tế. SVTH: Footer Page Huỳnh Thị Ngọc Huyền – K51A KDTM 22 of 21. 11 Header Page 23 of Khóa 21.

tốt nghiệp luận GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh + Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau. Các hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu: + Hàng đổi hàng (Barter) + Mua đối lưu (Counter - Purchase) + Mua lại sản phẩm (Product Buyback) + Trao đổi bù trừ (Compensation) + Hình thức chuyển nợ (Switch) + Hình thức giao dịch bồi hoàn (Offset) 1. Xuất khẩu hàng hóa theo nghị định thư Là hình thức xuất khẩu hàng hóa, thường diễn ra giữa các quốc gia có mối quan hệ mật thiết.

Chính phủ hai bên sẽ tiến hành ký kết nghị định (hay được gọi là gán nợ). Các doanh nghiệp trong nước sẽ dựa vào văn bản ký kết với các chỉ định và hướng dẫn cụ thể để thực hiện xuất khẩu hàng hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ