Luận văn ThS: Xóa bỏ lao động cưỡng bức theo công ước quốc tế & nội luật hóa tại VN

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Luận văn tập trung vào việc xóa bỏ lao động cưỡng bức thông qua các công ước quốc tế và

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Xóa bỏ lao động cưỡng bức Hành trình bảo vệ quyền lao động trong các công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam

Lao động cưỡng bức là một vấn đề nghiêm trọng, vi phạm quyền con người và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của xã hội. Luận văn này tập trung phân tích hành trình xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các công ước quốc tế và quá trình nội luật hóa vào pháp luật lao động Việt Nam năm 2020. Chúng ta sẽ khám phá những thách thức, giải pháp và kết quả đạt được trong cuộc chiến chống lại lao động cưỡng bức.

1.1. Nguồn gốc và khái niệm lao động cưỡng bức

Lao động cưỡng bức có nguồn gốc từ các hình thức nô lệ và bóc lột lao động trong lịch sử. Khái niệm này được định nghĩa là việc sử dụng sức lao động của một người dưới áp lực hoặc cưỡng bức, vi phạm quyền tự do và lựa chọn của cá nhân. Lao động cưỡng bức có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm nô lệ, buôn bán người, và các hình thức bóc lột khác.

1.2. Đặc điểm và tác động của lao động cưỡng bức

Lao động cưỡng bức có đặc điểm là sự cưỡng bức, đe dọa, và bóc lột. Nó ảnh hưởng đến mọi tầng lớp xã hội, từ người lao động nghèo đến các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, và người nhập cư. Tác động của lao động cưỡng bức là nghiêm trọng, bao gồm tổn thương thể chất và tinh thần, mất quyền lợi, và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội.

II. Hành trình xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các công ước quốc tế

Các công ước quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lao động và xóa bỏ lao động cưỡng bức. Chúng ta sẽ khám phá các công ước và hiệp định quốc tế liên quan, cũng như những nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết vấn đề này.

2.1. Công ước số 29 và Nghị định thư bổ sung 2014 của ILO

Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một trong những công ước quan trọng nhất trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức. Công ước này được thông qua vào năm 1930 và đã được nhiều quốc gia phê chuẩn. Nghị định thư bổ sung năm 2014 đã cập nhật và tăng cường các quy định về xóa bỏ lao động cưỡng bức.

2.2. Công ước số 105 và các hiệp định thương mại tự do

Công ước số 105 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các ngành công nghiệp và thương mại là một công ước khác tập trung vào việc xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các hoạt động kinh tế. Ngoài ra, các hiệp định thương mại tự do như CPTPP và EVETA cũng có những quy định về bảo vệ quyền lao động và chống lại lao động cưỡng bức.

III. Nội luật hóa các quy định xóa bỏ lao động cưỡng bức vào pháp luật Việt Nam

Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc nội luật hóa các quy định xóa bỏ lao động cưỡng bức vào pháp luật lao động. Chúng ta sẽ phân tích quá trình này và đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật Việt Nam với các công ước quốc tế.

3.1. Quy định về xóa bỏ lao động cưỡng bức trong pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật liên quan đã đề cập đến vấn đề này, bao gồm các hình thức biểu hiện và các chế tài pháp lý đối với hành vi cưỡng bức lao động.

3.2. Mức độ nội luật hóa và sự phù hợp với công ước quốc tế

Quá trình nội luật hóa các quy định xóa bỏ lao động cưỡng bức vào pháp luật Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức và khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế. Chúng ta sẽ phân tích và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức.

IV. Thực tiễn và kết quả xóa bỏ lao động cưỡng bức tại Việt Nam

Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc thực thi pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Chúng ta sẽ phân tích thực trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, các biện pháp thanh tra và xử lý vi phạm, cũng như đánh giá chung về kết quả đạt được.

4.1. Thực trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam

Lao động cưỡng bức vẫn còn tồn tại tại Việt Nam, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Chúng ta sẽ phân tích thực trạng này, bao gồm các hình thức và nguyên nhân dẫn đến lao động cưỡng bức.

4.2. Thanh tra và xử lý vi phạm lao động cưỡng bức

Các cơ quan chức năng tại Việt Nam đã triển khai các biện pháp thanh tra và xử lý vi phạm lao động cưỡng bức. Chúng ta sẽ đánh giá hiệu quả của các biện pháp này và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

V. Kiến nghị và tương lai của cuộc chiến chống lao động cưỡng bức

Cuộc chiến chống lại lao động cưỡng bức vẫn còn nhiều thách thức và cần những nỗ lực liên tục. Chúng ta sẽ đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức tại Việt Nam.

5.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức

Để hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức, chúng ta cần cập nhật và điều chỉnh các quy định hiện hành, đảm bảo phù hợp với các công ước quốc tế. Ngoài ra, cần tăng cường sự tham gia của các bên liên quan và nâng cao nhận thức về vấn đề này.

5.2. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tương lai cuộc chiến chống lao động cưỡng bức

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, cần tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng và các bên liên quan. Ngoài ra, cần có những chiến lược truyền thông và giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về quyền lao động và chống lại lao động cưỡng bức. Tương lai của cuộc chiến chống lao động cưỡng bức phụ thuộc vào sự đoàn kết và nỗ lực của toàn xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các công ước quốc tế và nội luật hóa trong pháp luật lao động việt nam 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG CUGONG BUC TRONG CAC CONG UGC QUOC TE 1. Khai quát chung về xóa hỏ lan dộng cưỡng bức và sự cần thiết xóa bỏ lao động cưỡng bức. 111 Nguân gốc của lao đồng cưỡng bức 1.2 Khải niệm lao dông cưỡng bức 1.3 Dặc điểm lao động cưỡng bức. Muc đích và ý nghĩa của việc xóa bỏ lao động cưỡng bức.

Các quy dịnh về xóa bỏ loại lau động cưỡng hức trong các công ước quốc tê 13.1 Các Công ước quốc tế về xóa bô lao động cưỡng bức 1. Nội dung cơ bản của Công ước số 29 và Nghị định thư bổ sung 2014 1.33 Nội dung cơ bản của Công ước số 105 - 134, Các Hiệp đmh thương mại tự do liền quan đến lao động cưỡng bức. Kinh nghiệm một số quốc gia về nội luật hóa pháp luật về xóa bé lao dộng cưỡng bức và bài học cho Việt Nam KET LUAN CHUGNG 1. CHƯƠNG 2: THỰC TIỀN NỘI LUẬT HÓA CÁC QUY ĐỊNH VỆ XÓA BO LAO DONG CUGNG BỨC TRONG CAC CONG ƯỚC QUỐC TẾ VÀO PHÁP LUẬT LAO ĐỌNG VIET NAM.

Quy dịnh cúa pháp luật hiện hành về xơá hó lao dộng cưỡng bức 34 người, Luật đưa NLĐ Việt Nam di lam vide ở nước ngoai thco hợp đồng, T,uật Việc lam. Trong bồi cảnh hệ thống pháp luật lao động đã và đang được hoàn thiên, thông qua việc ban hành Bê luật Lao động năm 2019, sửa đối Tuuật NLP Viét Nam di lam việc ở nước ngoài theo hợp đẳng. nhằm đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế, việc nghiên cứu, đánh giá việc nội luật hóa các quy dịnh về xóa bỏ I.ĐCH trong các công ước quốc tế vào pháp luật lao động Việt Nam. Từ đó, để xuất giải pháp về nội luật hóa nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định về LĐCB tại Việt Nam là hết sức cần thiết Với lý do như vậy, Ilọc viên chọn đề tài “Xáu bẩ lao động cưỡng hức trong các công ước quốc tế và nội la§t hóa trong pháp luật lao động Việt Naw” lam D8 tai Luan văn "Thạc sĩ cho minh.

Tình hình nghiên cứu 2. VỀ nh hình nghiên cứu Ú mước ngoài LDCB là vấn đề mang tính toản cầu, không chỉ được ILO quy định trong các văn kiện pháp lý đối với các quốc gia thành viên mả còn là đề lài được quan tâm tiếp cận, nghiên cửu với nhiều póc độ, phương diện khác nhau. Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Cuén sach “Forced Labor: Coercion and Exploitation in the Private Economy” (2009) (LDCB: cung bie va bóc lột trong nền kinh tế tư nhân) được giới thiệu bởi hai chuyên gia của ILO là Beate Andrees vả Patrick Belser. Cuốn sách *“Slavery, Horoedl labor, Debt bondage, and Human Traficking: Fram Conceptional Confusion to Targeted Solutions” (2011) cha Ann Jordan.

Bao cao “How lo Combat Forced Labour and Trafficking” (2009) của tổ chức liên đoàn công doan quốc tế (TTUC}, Bài viết: “Compensation for Forced during World War I in Nazi Germany”, tác giả Siefert Achim đăng 211 Quy định về xóa bỏ “lao đông cưỡng bức” 212 Các hình thức biểu hiện của lao động cưỡng bức 36 213 Các trường hợp ngoại lệ của tinh trạng lao động cưỡng bức. 42 214 Các chế tài pháp lý đối với hành vị cưỡng bức lao động 47 215 ảnh giá mức độ nội luật hóa các quy định về xóa bỏ lao đông cưỡng bức trong các công ước quốc tế vào pháp luật lao động Viét Nam. Thục tiễn thi hành pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức tại Việt Nam 221 "Thực trang lao động cưỡng bức tại Việt Nam. 222 'thanh ta, xử lý vi phạm đếi với lao động cưỡng bức 223 ánh giá chung.

KÉT LUẬN CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3: MỘT SÓ KIẾN NGII NIIẢM HOÀN TIIỆN PHÁP LUAT LAO DONG VE XOA BO LAO DONG CUGNG BUC VA NANG CAO HIEU QUA XOA BO LAO DONG CUGNG BUC TAI VIET NAM. Yêu cầu về hoàn thị pháp luật về xoá bá lao động cưỡng hức. Một số kiên nghị hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Một số kiến nghị về nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức tai Việt Nam 7 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.

74 KÉT LUẬN CHUNG. 75 DANII MUC TÀI LIỆU THAM KIIÁO. 77 người, Luật đưa NLĐ Việt Nam di lam vide ở nước ngoai thco hợp đồng, T,uật Việc lam. Trong bồi cảnh hệ thống pháp luật lao động đã và đang được hoàn thiên, thông qua việc ban hành Bê luật Lao động năm 2019, sửa đối Tuuật NLP Viét Nam di lam việc ở nước ngoài theo hợp đẳng.

nhằm đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế, việc nghiên cứu, đánh giá việc nội luật hóa các quy dịnh về xóa bỏ I.ĐCH trong các công ước quốc tế vào pháp luật lao động Việt Nam. Từ đó, để xuất giải pháp về nội luật hóa nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định về LĐCB tại Việt Nam là hết sức cần thiết Với lý do như vậy, Ilọc viên chọn đề tài “Xáu bẩ lao động cưỡng hức trong các công ước quốc tế và nội la§t hóa trong pháp luật lao động Việt Naw” lam D8 tai Luan văn "Thạc sĩ cho minh. Tình hình nghiên cứu 2. VỀ nh hình nghiên cứu Ú mước ngoài LDCB là vấn đề mang tính toản cầu, không chỉ được ILO quy định trong các văn kiện pháp lý đối với các quốc gia thành viên mả còn là đề lài được quan tâm tiếp cận, nghiên cửu với nhiều póc độ, phương diện khác nhau.

Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Cuén sach “Forced Labor: Coercion and Exploitation in the Private Economy” (2009) (LDCB: cung bie va bóc lột trong nền kinh tế tư nhân) được giới thiệu bởi hai chuyên gia của ILO là Beate Andrees vả Patrick Belser. Cuốn sách *“Slavery, Horoedl labor, Debt bondage, and Human Traficking: Fram Conceptional Confusion to Targeted Solutions” (2011) cha Ann Jordan. Bao cao “How lo Combat Forced Labour and Trafficking” (2009) của tổ chức liên đoàn công doan quốc tế (TTUC}, Bài viết: “Compensation for Forced during World War I in Nazi Germany”, tác giả Siefert Achim đăng MO DAU 1. Tính cấp thiết của dé tai nghiên cứu Tiết với một con người, sự tự do từ tỉnh trạng nô lệ, nô dịch, lao dông ép buộc và các dạng lao động bắt buộc là một phần của các quyền tự do cơ bản và đương nhiên của con người |65, tr.

Quyền này được thể hiện trong Tuyển ngôn toàn thể giới về nhân quyền năm 1948 [10, Điều 1, 2, 3, 4, $, 1A, 223], trong khi đó, lao động cưỡng bức (LĐCP) lại đi ngược lại với quyền tự do nay [47, 11. Chinh vi thé, cd quy định của pháp luật quốc tế về phòng, chống lại LEOB & lao động bắt buộc gắn với lịch sử đấu tranh chống lại ách nỗ lệ Các quy đmh quốc tế về LĐCB đầu tiên được thông qua bởi Hội quốc liên (tiến thân của Liên hiệp quốc) củng với Công ước giải phóng Nô lệ năm 1926 [7|. Vào năm 1930, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua Công ước LĐCP năm 1930 (Công ước số 29) |74. Sau Chiến tranh thể giới lần thứ II, Liên hiệp quốc và ILO đã thành lập một Ủy ban lâm thời về LDCB, Ủy ban được uỹ thác thực hiện việc điều tra các cáo buộc liên quan đến các đạng T.ĐCP, dang tổn tại.

Kết quả lâm việc của Ủy ban này cho thấy sự tồn tại của một hệ thống hành vi cưỡng bức lao động trên thể giới có tính chất nghiêm trọng, lả hệ quả của sự ép buộc về chỉnh trị hoặc cho các mục dich kinh tế đỏi hồi phải có giải pháp pháp lý quốc tế [66, tr. Diêu này, dẫn đến việc ILO thông qua Công ước xoá bỏ LĐCB vào năm 1957 (Công ước số 105) Việt Nam phê chuẩn Công ước số 29 (1930) vào ngày 05 tháng 3 năm 2007 và Công ước số 105 (1957) vào ngày 08 tháng 6 năm 2020. Cả hai Công ước số 29 và 105 đã được nghiên cứu với mục đích phê chuẩn từ năm 2005 của Bộ I.ao động - Thương bình và Xã hôi. Trước đây, việc phê chuẩn cả hai Công ước đã được trinh lên Chủ tịch nước phê duyệt nhưng chỉ có Công ước người, Luật đưa NLĐ Việt Nam di lam vide ở nước ngoai thco hợp đồng, T,uật Việc lam.

Trong bồi cảnh hệ thống pháp luật lao động đã và đang được hoàn thiên, thông qua việc ban hành Bê luật Lao động năm 2019, sửa đối Tuuật NLP Viét Nam di lam việc ở nước ngoài theo hợp đẳng. nhằm đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế, việc nghiên cứu, đánh giá việc nội luật hóa các quy dịnh về xóa bỏ I.ĐCH trong các công ước quốc tế vào pháp luật lao động Việt Nam. Từ đó, để xuất giải pháp về nội luật hóa nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định về LĐCB tại Việt Nam là hết sức cần thiết Với lý do như vậy, Ilọc viên chọn đề tài “Xáu bẩ lao động cưỡng hức trong các công ước quốc tế và nội la§t hóa trong pháp luật lao động Việt Naw” lam D8 tai Luan văn "Thạc sĩ cho minh. Tình hình nghiên cứu 2.

VỀ nh hình nghiên cứu Ú mước ngoài LDCB là vấn đề mang tính toản cầu, không chỉ được ILO quy định trong các văn kiện pháp lý đối với các quốc gia thành viên mả còn là đề lài được quan tâm tiếp cận, nghiên cửu với nhiều póc độ, phương diện khác nhau. Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Cuén sach “Forced Labor: Coercion and Exploitation in the Private Economy” (2009) (LDCB: cung bie va bóc lột trong nền kinh tế tư nhân) được giới thiệu bởi hai chuyên gia của ILO là Beate Andrees vả Patrick Belser. Cuốn sách *“Slavery, Horoedl labor, Debt bondage, and Human Traficking: Fram Conceptional Confusion to Targeted Solutions” (2011) cha Ann Jordan. Bao cao “How lo Combat Forced Labour and Trafficking” (2009) của tổ chức liên đoàn công doan quốc tế (TTUC}, Bài viết: “Compensation for Forced during World War I in Nazi Germany”, tác giả Siefert Achim đăng MO DAU 1.

Tính cấp thiết của dé tai nghiên cứu Tiết với một con người, sự tự do từ tỉnh trạng nô lệ, nô dịch, lao dông ép buộc và các dạng lao động bắt buộc là một phần của các quyền tự do cơ bản và đương nhiên của con người |65, tr. Quyền này được thể hiện trong Tuyển ngôn toàn thể giới về nhân quyền năm 1948 [10, Điều 1, 2, 3, 4, $, 1A, 223], trong khi đó, lao động cưỡng bức (LĐCP) lại đi ngược lại với quyền tự do nay [47, 11.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ