Chương 1. Những vấn đề lý luận về xác định cha, mẹ, con Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định cha, mẹ, con Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 9 CHUÔNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 1.
Khái niệm xác định cha, mẹ, con 1. Khái niệm cha, mẹ, con và quan hệ cha, mẹ, con Tâm hồn, tình cảm của người Việt vốn quý trọng nhất đối với cha mẹ là con cái. Cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con từ nhỏ đến lớn. Con phải hiếu nghĩa, chăm lo, phụng dưỡng bố mẹ suốt đời.
Quan hệ cha, mẹ, con dựa trên huyết thống là sự liên kết di truyền giữa các thế hệ. Xác định cha, mẹ, con giúp xác nhận và khẳng định mối quan hệ huyết thống tự nhiên giữa các thế hệ, qua đó xác lập quan hệ họ hàng trong gia đình. Xác định cha, mẹ, con cho phép xác định nguồn gốc, dòng họ và mối quan hệ giữa các thế hệ trước và sau đó. Huyết thống tạo nên sự kết nối vững chắc giữa các thành viên trong gia đình, gắn bó và truyền thống gia đình.
Quan hệ cha, mẹ, con cơ bản dựa trên tình yêu và chăm sóc. Cha mẹ đóng vai trò như người chăm sóc, bảo vệ và hướng dẫn con cái. Quan hệ này cung cấp một nền tảng cho sự phát triển và hạnh phúc của con cái, cũng như sự ổn định và sự ủng hộ trong gia đình. Điều này làm nối bật ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con trong việc xác định trách nhiệm và quyền lợi gia đình.
Xác định cha, mẹ, con là cơ sở để xác định quyền và trách nhiệm pháp lý của mồi thành viên trong gia đình. Nó liên quan đến các vấn đề như quyền tài sàn, quyền thừa kế, quyền nuôi dưỡng và chăm sóc con cái. Việc xác định này đảm bảo rằng mỗi thành viên có quyền được bảo vệ và nhận những lợi ích và quyền lợi pháp lý trong gia đình và xã hội. Mối quan hệ gia đình giữa cha, mẹ và con dựa trên huyết thống có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định danh tính và quan hệ họ hàng.
Nó cung cấp sự kết nối di truyền, tình yêu và chăm sóc, cũng như quyền và trách nhiệm pháp lý. về mặt di truyền học, “con” sinh ra luôn có “cha” và “mẹ”. Đây là sự 10 kiện tự nhiên được pháp luật ghi nhận thành một sự kiện pháp lý và có sự điêu chỉnh nhất định. Theo Từ điển Lạc Việt, “cha” là “người đàn ông sinh ra mình ”, “mẹ” là “người phụ nữ sinh ra mình ” [41], theo nghĩa hẹp này thì cha và mẹ là người trực tiếp “sinh ra” con, tức là quan hệ cha - con, quan hệ mẹ - con là quan hệ huyết thống được xác lập dựa trên sự kiện sinh đẻ.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “cha” là “người đàn ông có con trong quan hệ vót con ”, “mẹ” là “người phụ nữ có con trong quan hệ với con ” [42], theo khái niệm này thì khái niệm “cha mẹ” sẽ bao gồm cả cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi Trong đời sống xã hội, khái niệm "con" bao gồm hai loại: "con trong hôn nhân" và "con ngoài hôn nhân". Con trong hôn nhân là con của cha mẹ đăng ký kết hôn hợp pháp, còn con ngoài hôn nhân là con của cha mẹ không đăng ký kết hôn hợp pháp. Thông thường, khi sinh đẻ, người ta sẽ xác định được người mẹ cho con. Nếu vợ sinh con hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân, thì chồng sẽ là cha của đứa trẻ.
Tuy nhiên, con ngoài hôn nhân là con sinh ra khi cha mẹ không phải là vợ chồng hợp pháp, hoặc khi người chồng chứng minh trước tòa án rằng đứa trẻ đó không phải là con của họ. Từ đó, việc xác định xem con sinh ra có phải là con trong hôn nhân hay con ngoài hôn nhân phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha mẹ. Hiện nay, để tránh sự phân biệt đối xử giữa con trong hôn nhân và con ngoài hôn nhân, Luật HN&GĐ năm 2014 đã không sử dụng thuật ngừ "con ngoài hôn nhân" nữa. Có các khái niệm "con chung", "con riêng", "con đẻ" và "con nuôi" trong quan hệ gia đình.
"Con chung" được xác định là con của cả hai vợ chồng, "con riêng" là con của một trong hai bên trong mối quan hệ hôn nhân với người vợ hoặc chồng của họ. Thuật ngữ "con đẻ" được hiểu là chỉ đến con có quan hệ huyết thống với cha mẹ, trong khi "con nuôi" là người không có liên hệ máu mủ với cha mẹ nuôi, nhưng đã được chấp nhận làm con và được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan hệ cha-con và mẹ- con không chỉ đơn giản là quan hệ xã hội, mà còn được công nhận và bảo vệ bởi pháp luật. Mặc dù quan hệ giữa cha mẹ và con được xác định bằng sự kiện sinh đẻ trong thực tế xã hội, nhưng để được pháp luật công nhận, quan hệ này càn được xác nhận bởi cơ quan nhà nước có thấm quyền và thông qua các thủ tục pháp lý nhất định.
Thông thường quan hệ cha, mẹ, con được xác định từ sự kiện sinh đẻ, đứa trẻ được người cha, người mẹ trực tiếp sinh ra sẽ có cùng huyết thống với người cha, người mẹ đó. Tuy nhiên, trong trường hợp con được cha mẹ sinh ra từ việc thực hiện kỳ thuật hồ trợ sinh sản thì đứa con mặc dù vẫn được người mẹ trực tiếp sinh ra nhưng có thể không có cùng huyết thống di truyền với cha (khi người mẹ nhận tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng), hoặc với mẹ (khi nhận noãn) hoặc với cả cha và mẹ (khi người mẹ nhận phôi thai của người hiến tặng đế sinh con). Trong trường hợp con được sinh ra thông qua kỹ thuật hồ trợ sinh sản, vẫn sẽ được xác định là con chung của vợ chồng, đồng nghĩa vẫn tạo nên mối quan hệ đầy ý nghĩa giữa cha, mẹ, con. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: Cha, mẹ, con là một mối quan dưới góc độ sinh học được thể hiện qua sự kiện sinh đẻ và gắn với quan hệ huyết thống trực hệ giữa hai bên, trong đó người trực tiếp sinh ra đứa con là cha, mẹ; người được cha mẹ sinh ra và có cùng huyết thống với cha, mẹ là con.
Từ khái niệm cha, mẹ, con thì có thể đưa ra khái niệm quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ giữa người cha, người mẹ, người con phát sinh trên cơ sở sự kiện sinh đẻ, có cùng huyết thống hoặc có thể không cùng huyết thống, làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo qui định của pháp luật. Khải niệm, đặc điếm của việc xác định cha, mẹ, con 9 7 9 9 • 7 9 7 1. Khái niệm xác định cha, mẹ, con Trong đời sống xã hội, quan hệ gia đình luôn là một chủ đề được quan tâm và nghiên cứu nhiều. Trong đó, việc xác định cha, mẹ, con là vấn đề cực 12 kỳ quan trọng.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cần tìm hiểu về khái niệm và đặc điềm của việc xác định cha, mẹ và con. Trong trường hợp con sinh ra trong quan hệ hôn nhân, cha của đứa trẻ sẽ được xác định là người chồng của người mẹ. Tuy nhiên, đối với con ngoài giá thú, việc xác định cha mẹ và con sẽ phải thông qua quá trình chửng minh và xác nhận quan hệ huyết thống bằng những phương tiện pháp lý như xét nghiệm ADN hoặc tài liệu chứng minh khác. Trong quan hệ gia đình việc xác định cha, mẹ, con bao gồm cả việc xác định “con chung” của hai người cha me và xác định “con riêng” là con chỉ có một người hoặc là cha hoặc là mẹ có cùng quan hệ huyết thống.
Con chung là con của cả hai người cha mẹ, trong khi con riêng chỉ thuộc về một trong hai bên cha mẹ. Việc xác định cha, mẹ, con là việc tìm hiểu, chỉ ra, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa người là cha, là mẹ với người được xác định là con. về nguyên tắc, cơ sở đế xác định mối quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ huyết thống giữa hai bên, giữa cha với con, giữa mẹ với con. Song do sự phát triển của khoa học công nghệ, sinh học, y tế, trong trường hợp con sinh ra từ kỳ thuật hồ trợ sinh sản, thì người con có thể không có cùng huyết thống di truyền với người cha, hoặc với người mẹ hoặc với cả cha và mẹ, tuy nhiên đứa trẻ vẫn được xác định là con của cặp cha mẹ đó về mặt pháp lý do cặp vợ chồng đã tự nguyện thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con.
Dưới góc độ sinh học - xã hội, “xác định cha mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm kiếm nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kê tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ ’’(Nguyễn Thị Lan (2008), Xác định cha mẹ, con theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam - Cơ sở lí luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật, Hà Nội, tr. Theo quan niệm này, vai trò cha, mẹ và con chỉ được xác định dựa trên mối quan hệ huyết thống giữa hai người thông qua việc người phụ nữ sinh con. Tuy nhiên, hiện nay, để 13 xác định quan hệ huyêt thông cha, mẹ và con giữa hai người, chúng ta thường dùng kết quả xét nghiệm ADN. Tuy nhiên, việc dùng phương pháp này trong mối quan hệ gia đình đôi khi không phù hợp, gây khó khăn và ảnh hưởng xấu đến quan hệ vợ chồng và gia đình.
Ngoài ra, quan niệm này cũng không phù hợp với thực tế hiện nay, khi một số người sử dụng các biện pháp hồ trợ kỹ thuật sinh sản để sinh con, có trường hợp người cha, mẹ sinh con không có mối quan hệ huyết thống với đứa trẻ, nhưng đứa trẻ vẫn được xác định là con của người có yêu cầu thực hiện kỳ thuật hộ trợ sinh sản đế sinh con từ góc độ pháp lý. Do đó, việc xác định cha, mẹ, con cần được hiểu đầy đủ từ góc độ pháp lý. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Lan thì, xác định cha, mẹ, con dưới góc độ pháp lý có thể được hiếu từ nhiều góc độ khác nhau: với tư cách là một sự kiện pháp lý [20, tr.23], là một quan hệ pháp luật [20, tr.26], là một chế định pháp lý [20, tr.