Chương 1. Cơ sử lý luận và thực tiễn 1. Cơ sử lý luận và cách tiến cận vẫn để nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu Nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử lam phương pháp luận nghiên cứu Chủ nghĩa duy vật biện chủng không chỉ nhin nhận thể giới tổn tại xung quanh chủng ta là thể giới vật chất không ngừng vận động, phát triển mả còn vạch.
ra những quy luật khách quan chỉ phổi đến sự vận dộng vả phát triển đó. Trong dời sống xã hỏi, mỗi cá nhân luôn luôn tốn tại trong quan bệ nhóm, quan hệ công déng, xã hội và hành vĩ của mỗi cá nhân cũng bị chỉ phối, phụ thuộc bởi các quan hệ xã hội đó. Hoạt động chăn nuôi cửa các hộ gia đình năm Irong mỗi quan hệ ràng buộc chặt chế với hoạt động cưng ứng nguyên liện đâu vào (vỏn, con giỏng, thức ăn chăn nuôi) và định hướng đối với người mua (thị trường). Sản phẩm chắn miôi từ khâu.
sản xuất cho đến khi được đưa đến tay người tiêu đùng cuối có sự tham gia của nhiều tác nhân như thu mua, giết mổ, chế biến, phản phối. Giữa các tác nhân cỏ môi liên kết lẫn nhau về mặt lợi ich, do vay quan diễm của chủ nghĩa duy vat bién ching đòi hỏi khi xem xét bắt kỹ tác nhân nào hay mỗi quan hệ nảo dẻu phải đặt chứng, trong bồi cảnh chung. Trong nghiên cửu nà) lâm rõ vai trỏ của siêu thị đối với hoạt động chăn nuôi của nông hộ không thể không lâm rõ chuỗi cụng ứng mà hơi chủ thể đó cùng tham gia Chỗ nghĩa duy vật lịch sử cũng chỉ ra rằng, khi xem xét một văn để cần phải nhìn nhận đổi tượng nghiên cứu trong những bồi cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể, Với co sở lý luận như vậy, khi đánh giá vai trò của các siêu thị đổi với hoạt chăn nuôi lợn của các hộ nông dân, nghiên cửu tuân thủ cách nhìn nhận vẫn dé trong bối cảnh của quá trình van dong và phát triển kinh tế — xã hội chung cia dat nước, đặc biệt là các quan diém, chính sách về phát triển kinh tế nông hô, kinh tế trang trai; các chính sách qui hoạch ving chin nuôi tập trung của dịa phương. Việc dat vin dé nghiên cửu váo một bối cảnh cụ thể sẽ giúp người nghiên cửu cỏ những cơ sở đề phân lich mél each sau sae va toan dién hon.
Lý thuyết tiếp cận Ly thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý lá hai trong số những lý thuyết cỏ nguồn gốc đa dạng nhất trong hệ thống lý thuyết xã hội học. Co sớ cho sự xuất hiện quan điểm nảy bắt nguồn từ những quan điểm của nhiều ngành khoa học khác nhau. như Kinh tế học, Nhân loại học, Tâm lí hos. Dẫu vậy, phải thừa nhận rằng nguồn gốc kinh tế với các khải niêm chi phi — lợi nhuận lả một trong những luân điểm góc của quan điểm này.
>_ Lự thuyết trao đổi của Thibaut và Kelley Thibaut và Kelley là các tác giả chính của nhóm tâm lý xã hội, tập trưng nghiên cứu mỗi tương quan giữa phản thưởng vả chỉ phí mà các thánh viên của một nhém có thế dat được sẽ cỏ tác động tích cực so với phan thưởng của từng người với tư cách là thảnh viên cúa nhóm. Nguyễn nhân là do khi con người tụ hợp với nhau thành một nhỏm xã hội thì hànhvị của từng cả thể sẽ khác vẻ chất sơ với hành vị đơn lé của các cả nhân. Trong một nhóm, nẻu cá bai người déu cé kha năng tạo ra những phần thưởng tối da của họ cho những người khác với chỉ phi tôi thiểu mà họ phải bỏ ra thi mdi quan h ta họ không những chỉ có tính lích cực mà pòn có eả lợi thê đề cả hai chủ thể cùng có khả năng được lương quan thưởng — chỉ phí thấp nhất Những phân tích của Thibaut và Kellsy lá cœ sở quan trọng cho những lý giải về sự khác biệt trong so sánh piữa hai nhóm hộ chắn nuôi lợn tại Đồng Nai. Chỉ phí và lợi nhuận của nhóm hệ không tham gia chuỗi cưng ứng thịt lợn cho các siêu thị là hành vị của những cá nhân đơn lẽ.
Trong khi đó, các hộ chin mudi tham gia chuỗi cứng ứng thịt lợn cho các siêu thị có mất liên kết mạnh mẽ hơn với nhà quản lý, nhà khoa học và các doanh nghiệp, dặc biệt là mối liên kết giữa các hộ cùng tham gia chuối cung từng. "_ Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Thuyết lựa chọn hợp lý dưa vào tiễn đẻ cho rằng con người hoạch định hành động một cách có chủ dích, có suy nghĩ dễ lựa chon va six dung các nguồn lực một 18 cach duy lý nhằm dạt được kết quá tôi da với clu phí tối thiểu. Tức là trước khi quyết định ruột hành động nào đỏ con người luôn luôn đặt lên bàn dân để cân đo, đong đếm giữa clu phí và lợi nhuận mang bại, nếu chỉ phí ngàng bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận sẽ din đến quyết định thực hiện hành động và ngược lại nếu chỉ phí lớn hơn lợi nhuận thì họ không hành động Khi nhắc đên lý thuyết trao đối và lựa chon hợp lý, có lẽ không ai có thể vượt qua được tên tuổi cla Georg Simmel. Ong néu ra nguyén tac “cùng có lợi” trong môi tương tác xã hội giữa cáo cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân.
nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuôi các nhù cầu cá nhân, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. 5mumcl cho rằng, môi tương tác giữa người với người dầu dựa vào cơ chế cho — nhận, tức là trao dỗi mọi thử ngang giá nhau. Quan miệm này vỀ sau được phát triển thành học thuyết trong nghiên cửu xã hội học hiện đại. Thuyết trao đổi cơi lương tác xã hội như là một sự trao đổi làng.
hóa, dịch vụ giữa các bên than gia. Mỗi bên luôn xem xét chỉ phí bô ra và lợi nhuận nang vẻ của từng mén hảng, từng địch vụ trước khi đưa chúng ra trao đổi với nhau. Quan điểm này không được mặn mà mây với các nhà xã hội học nhưng thực tế cho. thấy ở mọi lúc, mọi nơi con người ta đều sử dụng nó, Nhất là trong thời đại kinh tế thị trưởng như hiện nay thì quan điểm này ngảy càng tỏ rồ vai trò quan trọng trong, việc lý giải các hiện tượng xã hội.
Hai dại điện quan trọng ca ly thuyét trao déi 1a George Homans va Peter Blau. Néu như Homans xây đựng lý thuyết trên cơ sở nghiên cửu hành vị xã hỏi ở cấp vi mô là các cá nhân và các nhóm nhỏ thì lý thuyết Trao đối xã hội do Peter lau đưa ra trên cơ sở tiếp cận câu Irúc xã hội ở cấp độ vĩ mô - nhóm lớn Homans dua ra chủ trương “trả lại con người cho xã hội học”, ông cho rằng mọi lý thuyết xã hội học không lỏ thực chất đếu là xã hội học về nhóm và các hiện. tượng xã hội cân được giải thích bằng các đặc điểm của cá nhân chứ không phải bằng đặc điểm của cấu trúc xã hội. Vì vậy, cách lý giái hợp lý nhất đổi với hiện tượng xã hội là cách giải thích tâm lý học.
“Hành vi sơ đẳng” của con người là cơ sở của sự trao đổi xã hội giữa lrai hoặc nhiễu người. Ông định nghia hanh vi so ding là hành vi mà con người lắp di lặp lại, không phụ thuộc vào việc nó dược hoạch định hay không, điển ra dưới nhiều hình thức tù phần xạ có diểu kiện đến kỹ năng, *kỹ xảo đến thói quen. Con người là một chủ thẻ đuy lý trong việc xem xét và sự lựa chọn hoạt động để đem lại phân thưởng lớn nhất vả có giá trị nhật. Ông cho rằng quyền lực cũng tham gia vảo quá trình trao đối, nó có khả năng dem lai cae phan thưởng có giá trị.
Vì vậy, quan hệ quyển lực cí là quan hệ trao đối. Thác với Homans, Đlau quan tâm nghiên cứu sự trao dổi xã hội trong quan hệ với câu trúc xã hội vĩ mô. Blau cho rằng sự trao đối xã hội không chỉ là một khia cạnh, một mặt của hành vi xã hội mả còn có vai trỏ đặc biết quan trọng đổi với sự hội nhập, đoàn kết, thống nhất xã hội. Ông cho rằng, yêu tô cốt lõi của sự trao đối xã hội là sự phụ thuộc của cá nhân này vào cá nhân kia về sản phẩm, hàng hóa hay địch vụ nào đó.
Blau cũng đưa ra quan điểm cho rằng trong trao đôi xã hội chúa đựng yêu tổ quyền lực vả quan hệ trao đổi là quan hệ làm nảy sinh quan hệ quyền. Trong trao dễi xã hội, quyền lực là thứ có thể dem trao dỏi đẻ lấy thứ khác. Do đó, người có quyền lực van phải tham gia vào tương tác, quan hệ với người khác dễ dành những thứ có giá trị. Điều đặc biệt trong nghiên cứu “trao đổi xã hội” của Blau là ông đã đưa các lý thuyết xã hội của mình vượt khỏi phạm vì của các định để lâm.
ty hoc về sự ha chọn của cá nhân. Thay vì nhân mạnh các yếu tổ tâm lý của hành vi lựa chọn, Blau đặc biệt chứ ý đến vai trò của “cầu trúc xã hội”. Ông nghiền cứu cầu trúc xã hội vi mô với tư cách là cầu trúc tế bảo của xã hội, tức lả cầu trúc nhóm đôi, nhóm cặp. Trên cơ sở đó, ông triển khai nghiên cứu đặc điểm, tỉnh chất của cầu trúc xã hội vĩ mỗ gồm nhiều người, nhiễu nhóm xã hội, nhiều thiết chế xã hội và hệ thống xã hội.
Trong nghiên cứu này, hành vì giữa người mua vẻ người bán lợn tại Đẳng Nai được xem xét dưới góc độ của hành vị trao đối. Đây là các hoại động mang tính chất kinh tế, do vậy đương nhiên nó được nhĩn nhận trên cơ sở tính loán và cần đối sự hợp lý về mặt chỉ phí và lợi nhuận. Hành vi này không đơn thuận là hành vị diễn Ta giữa hai cá nhãn người bán và người mua mà được xem xét theo qưan điểm “tran đổi xã hội” của I3lau trong mỗi quan hệ với các cấu trúc vĩ mồ khác. Nói cách khác, hành vị mua-bán đối với sản phẩm thịt lợn được đặt trong mỗi quan hệ cung ứng, giữa nhiều tác nhân liên hệ, ràng buộc về mặt lợi ich.
Thông qua mỗi quan. dỗi mày, nghiên cứu sẽ lập trung làm rõ vai Irò của các quan hệ muø-bán dối với các chủ thể, đặc biột là vai trỏ siêu thị đối với hoạt động chân nuồi của các hộ mồng đân.