Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung tại Việt Nam - Luận văn Trịnh Thị Hào

Luận văn trình bày phương pháp xác định levofloxacin trong dược phẩm, nước tiểu bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) với độ chính xác và hiệu quả cao.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ sinh học

2011

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát chung về ung thư thân tử cung

Ung thư thân tử cung là một bệnh lý ác tính phát triển từ các tế bào của thân tử cung, cơ quan sinh sản quan trọng ở phụ nữ. Thân tử cung gồm hai phần chính: cổ tử cung và thân tử cung, trong đó ung thư thân tử cung chủ yếu phát sinh từ nội mạc tử cung. Đây là loại ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ trên toàn thế giới. Các đặc điểm lâm sàng bao gồm chảy máu bất thường, đặc biệt là chảy máu sau mãn kinh, đau vùng chậu và các triệu chứng tiểu tiện bất thường. Cận lâm sàng bao gồm các phương pháp chẩn đoán hiện đại như siêu âm, chụp cắt lớp và sinh thiết mô. Việc phát hiện sớm ung thư thân tử cung giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót của bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa và cấu trúc giải phẫu thân tử cung

Thân tử cung là cơ quan rỗng, có hình quả lê nằm trong vùng chậu của phụ nữ. Thân tử cung gồm ba lớp chính: lớp ngoài (thanh mạc), lớp cơ (cơ tử cung) và lớp trong (nội mạc tử cung). Nội mạc tử cung là nơi phát sinh hầu hết các trường hợp ung thư thân tử cung. Cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong chu kỳ kinh nguyệt và mang thai, nhưng cũng dễ bị tác động bởi các yếu tố nội tiết tố.

1.2. Phân loại mô bệnh học ung thư thân tử cung

Ung thư thân tử cung chủ yếu chia thành các loại: ung thư tuyến endometrioid, ung thư tuyến không liên quan đến nội tiết tố và ung thư thanh mạc. Phân loại mô bệnh học ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều trị và tiên lượng bệnh. Đa số các trường hợp ung thư thân tử cung được phát hiện ở giai đoạn sớm nhờ triệu chứng chảy máu bất thường.

II. Tình hình mắc ung thư thân tử cung hiện nay

Ung thư thân tử cung đang gia tăng mạnh trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển. Tỷ lệ mắc bệnh liên quan chặt chẽ với các yếu tố như béo phì, lối sống kém lành mạnh và sử dụng nội tiết tố. Tại Việt Nam, tình hình ung thư thân tử cung được ghi nhận qua các nghiên cứu của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn của Trịnh Thị Hào năm 2011 đã thực hiện nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung tại các tỉnh Việt Nam, cho thấy sự cần thiết của các biện pháp phòng ngừa và sàng lọc. Số liệu dịch tễ học ung thư thân tử cung ở Việt Nam vẫn còn thiếu so với các nước khác, cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ tình hình.

2.1. Tỷ lệ mắc ung thư thân tử cung trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC), ung thư thân tử cung là một trong những ung thư phổ biến. Ở các nước Mỹ, tỷ lệ mắc ung thư thân tử cung khoảng 25-30 trên 100,000 phụ nữ hàng năm. Các nước Châu Âu cũng ghi nhận tỷ lệ tương tự hoặc cao hơn.

2.2. Tình hình ung thư thân tử cung tại Việt Nam

Ung thư thân tử cung tại Việt Nam chưa được báo cáo chi tiết như các nước khác. Các bệnh viện đa khoa ở các tỉnh ghi nhận số bệnh nhân ung thư thân tử cung ngày càng tăng. Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung tại một số tỉnh Việt Nam cho thấy cần tăng cường công tác phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng.

III. Các yếu tố liên quan đến ung thư thân tử cung

Các nghiên cứu khoa học đã xác định nhiều yếu tố liên quan đến ung thư thân tử cung. Yếu tố môi trường bao gồm béo phì, chế độ ăn uống kém lành mạnh và thiếu hoạt động thể chất. Yếu tố xã hội liên quan bao gồm tuổi tác, số lần mang thai, tuổi quan hệ tình dục lần đầu và các biện pháp tránh thai. Các tình trạng sức khỏe như tiểu đường, tăng huyết áp cũng gia tăng nguy cơ ung thư thân tử cung. Nghiên cứu của Trịnh Thị Hào đã phân tích chi tiết các yếu tố liên quan thông qua việc khảo sát 161 bệnh nhân tại nhiều tỉnh, cung cấp bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa các yếu tố này và bệnh.

3.1. Yếu tố môi trường liên quan đến ung thư thân tử cung

Béo phì là yếu tố nguy cơ chính liên quan đến ung thư thân tử cung, do mô mỡ sản xuất estrogen. Chỉ số khối cơ thể (BMI) cao gia tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Chế độ ăn uống giàu chất béo, tinh bột và thiếu rau xanh cũng là yếu tố liên quan. Hút thuốc lá, uống rượu và thiếu hoạt động thể chất là những yếu tố môi trường quan trọng khác.

3.2. Yếu tố xã hội và sinh sản liên quan

Tuổi mang thai lần đầu, số lần mang thai, và tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ là yếu tố liên quan tới ung thư thân tử cung. Phụ nữ chưa từng mang thai hoặc có ít con có nguy cơ cao hơn. Tuổi quan hệ tình dục lần đầu và số bạn tình cũng ảnh hưởng. Sử dụng các biện pháp tránh thai khác nhau có mối liên quan khác nhau đến nguy cơ mắc bệnh.

IV. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

Luận văn Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung và các yếu tố liên quan của Trịnh Thị Hào sử dụng phương pháp nghiên cứu bệnh chứng hợp chứng (case-control study) trên 161 bệnh nhân tại các bệnh viện đa khoa ở một số tỉnh Việt Nam. Nghiên cứu thu thập thông tin chi tiết về đặc điểm nhân口 hoc, lịch sử sinh sản, thói quen sống và các biện pháp tránh thai của bệnh nhân. Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên kết quả sinh thiết mô được xác nhận bởi các chuyên gia. Dữ liệu được xử lý thống kê để tính toán tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy (CI). Ý nghĩa của luận văn là cung cấp bằng chứng khoa học về tình hình ung thư thân tử cung tại Việt Nam và giúp xác định các yếu tố liên quan cho công tác phòng chống bệnh.

4.1. Thiết kế và phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng hợp chứng được chọn để so sánh các yếu tố liên quan giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Cỡ mẫu 161 bệnh nhân được lựa chọn từ các bệnh viện đa khoa có điều kiện sàng lọc tốt. Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư thân tử cung dựa trên kết quả sinh thiết mô xác nhận. Các biến số được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp và từ hồ sơ bệnh án.

4.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn cung cấp dữ liệu quý báu về tình hình ung thư thân tử cung tại Việt Nam, làm cơ sở cho các chính sách y tế công cộng. Kết quả xác định các yếu tố liên quan chính giúp xác định nhóm phụ nữ nguy cơ cao cần sàng lọc. Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng ngừa ung thư thân tử cung và khuyến khích lối sống lành mạnh.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới về mô hình bệnh tật thế kỷ 21 thì bệnh không nhiễm trùng nói chung và bệnh ung thư nói riêng là nhóm bệnh chủ yếu đe dọa sức khỏe con người. Bệnh ung thư đã và đang tạo ra gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng. Ung thư là nguyên nhân của 12% trong số 56 triệu trường hợp tử vong hàng năm trên thế giới do nhiều nguyên nhân khác nhau [45]. Tại Việt Nam, ước tính hàng năm có tới 100.000 trường hợp mắc mới ung thư và khoảng 70.0 người chết vì căn bệnh này [15].

Ung thư thân tử cung (TTC) phần lớn là ung thư nội mạc tử cung (NMTC) (95%) và ung thư cơ tử cung (1-3%). So với các ung thư ở phụ nữ thì ung thư nội mạc tử cung đứng thứ tư sau ung thư vú, ung thư đại tràng và ung thư phổi.300 trường hợp, Pháp tần số mắc bệnh là 25/100. Tần suất ung thư khác nhau ở các châu lục, các nước trong châu Á tần suất thường gặp thấp hơn so với châu Âu 4-5 lần [15]. Ung thư cơ tử cung ít gặp hơn so với ung thư nội mạc tử cung chỉ chiếm khoảng 1-3% các trường hợp ung thư thân tử cung.

Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm, tái phát cao ngay cả khi bệnh ở giai đoạn đầu. Tuy tỷ lệ phát hiện bệnh ung thư cơ tử cung ít nhưng có tới 15% các trường hợp tử vong do loại ung thư này [7] [15]. Ở Việt Nam, phụ nữ hiện vẫn là lực lượng quan trọng trong cơ cấu lực lượng lao động, nhất là trong lao động nông nghiệp, chăn nuôi trồng trọt, dệt, thủ công nghiệp,… Đa số điều kiện lao động các ngành nghề này chịu nhiều tác động bất lợi do ngành nghề lao động nặng nhọc. Bên cạnh đó phải kể đến việc có một tỷ lệ lớn phụ nữ hiện sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình như dùng thuốc tránh thai, triệt sản bằng thắt vòi trứng và bằng thuốc Quinacrine đặt vào buồng tử cung.

Một câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là liệu các yếu tố môi trường và xã hội có tác động đến sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư thân tử cung ở phụ nữ Việt Nam hay không. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích tình hình ung thư thân tử cung ở phụ nữ Việt Nam và các yếu tố liên quan. Mới chỉ có một số ít nghiên cứu 1 tập trung vào việc ghi nhận ung thư thân tử cung tại các bệnh viện hay tiến hành nghiên cứu sàng lọc tiền ung thư thân tử cung ở cộng đồng trong địa bàn nhỏ. Vì vậy, nghiên cứu bệnh ung thư phụ khoa nói chung, ung thư thân tử cung nói riêng và những yếu tố liên quan đến nó nhằm tìm ra các giải pháp khả thi để hạn chế các yếu tố nguy cơ gây ung thư, phát hiện sớm và điều trị kịp thời kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.

Để góp phần có được cơ sở khoa học giải quyết những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình ung thư thân tử cung và các yếu tố liên quan tại một số tỉnh Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu của đề tài được mong đợi giúp ngành Y tế có được các phát hiện mới về mối liên quan với ung thư thân tử cung của một số yếu tố trước đây chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ ở Việt Nam. Địa bàn nghiên cứu gồm 12 tỉnh là một yếu tố đảm bảo các phát hiện của đề tài có tính đại diện vùng miền cao, là cơ sở khoa học góp phần cho các nhà hoạch định các chính sách xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp, nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng ở nước ta. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Xác định sự phân bố và một số đặc điểm phụ nữ ung thư thân tử cung tại 12 tỉnh ở Việt Nam, giai đoạn 2001-2010. Xác định các yếu tố liên quan đến ung thư thân tử cung ở phụ nữ trên địa bàn nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƢ THÂN TỬ CUNG 1.

Khái niệm về thân tử cung (TTC) Tử cung là cơ quan sinh dục nữ nằm giữa chậu hông bé, sau bàng quang, trước trực tràng, trên âm đạo, dưới các quai ruột non và có hình quả lê. Đây là nơi làm tổ và phát triển của trứng đã thụ tinh cho tới khi thai trưởng thành. Khối lượng tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của người phụ nữ, theo chu kỳ kinh nguyệt và tình trạng thai nghén. Tử cung của phụ nữ chưa sinh đẻ có kích thước vào khoảng 7,5cm x 5cm x 2,5cm [5].

Tính từ trên xuống, tử cung gồm ba phần: thân, eo và cổ. TTC có dạng hình thang, phần rộng ở trên gọi là đáy tử cung, hai góc bên là chỗ ống dẫn trứng thông với buồng tử cung. Đây là nơi bám của hai dây chằng tròn và dây chằng tử cung - buồng trứng gọi là sừng tử cung. Thân tử cung dài khoảng 4cm, rộng khoảng 4,5cm, trọng lượng trung bình 50 gam (ở những người đẻ nhiều kích thước tử cung có thể lớn hơn một chút) [4].

Cấu tạo mô học TTC: thành TTC được cấu tạo từ ngoài vào trong gồm ba lớp: thanh mạc, cơ và nội mạc. Lớp thanh mạc là lớp phúc mạc phủ các mặt của tử cung, lách xuống tận thành bên chậu hông và tạo nên dây chằng rộng [5]. Lớp cơ gồm ba tầng: lớp ngoài gồm những sợi cơ dọc; Lớp giữa dày nhất, gồm những sợi cơ đan chéo bao quanh các mạch máu. Sau khi đẻ, các sợi cơ này co rút lại, chèn ép vào các mạch máu làm cho máu tự cầm; Lớp trong là cơ vòng.

Các lớp cơ thân tử cung tạo thành một hệ thống có tính chất vừa giãn vừa co. Trong cùng là nội mạc tử cung, đó là lớp biểu mô tuyến gồm hai lớp: lớp đáy mỏng, ít thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, lớp nông thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt và bong ra khi hành kinh [4]. Cấu tạo giải phẫu TTC 1. Ung thƣ thân tử cung Ung thư TTC phát triển từ phần thân tử cung phổ biến gồm ung thư nội mạc tử cung (NMTC), phát triển từ lớp nội mạc tử cung và hiếm hơn là ung thư cơ tử cung.

Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập 2 loại bao gồm ung thư nội mạc tử cung và cơ tử cung. Ung thư NMTC là bệnh ác tính đường sinh dục hay gặp nhất ở các nước phát triển, hay gặp ở những phụ nữ từ 50 – 70 tuổi đã mãn kinh. Tuy nhiên, cũng có tới 15 – 25% các trường hợp ung thư NMTC gặp ở phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh, tiên lượng thường tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị sớm. Với triệu chứng diễn ra một cách âm thầm nhưng có khoảng 10% có cảm giác khó chịu ở vùng bụng dưới và có thể đau do cổ tử cung bị xâm nhiễm, chít hẹp khiến tử cung bị giãn căng ra.

Nếu các chất hoại tử trong tử cung bị nhiễm trùng và áp xe thì thậm chí bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng huyết. Ung thư nội mạc tử cung Phân giai đoạn lâm sàng ung thư NMTC của FIGO (Federation International de Genecologie et Obstetrique - Liên hiệp Quốc tế phụ khoa và sản khoa) năm 1988 (36). Giai đoạn Ia: Ung thư chỉ tại nội mạc tử cung Ib: Khối u xâm lấn dưới 1/2 lớp cơ tủ cung Ic:Khối u xâm lấn trên ½ lớp cơ tử cung Giai đoạn II: Ung thư lan tràn khắp thân và cổ tử cung IIa: Chỉ xâm nhiễm tuyến cổ trong ống cổ tử cung IIb: Xâm lấn mô đệm cổ tử cung Giai đoạn III: Ung thư lan tràn ra ngoài tử cung nhưng chưa vào tiểu khung IIIa: Lan ra thanh mạc hoặc phần phụ (lan trực tiếp hoặc di căn hoặc tế bào học màng bụng dương tính) IIIb: Lan xuống âm đạo (lan trực tiếp hoặc di căn) IIIc: Di căn vùng chậu hoặc di căn đến hạch cạnh động mạch chủ Giai đoạn IV: Ung thư lan tràn ra ngoài tiểu khung hoặc lan tràn đến bàng quang, trực tràng 6 IVa: Ung thư xâm lấn niêm mạc ruột, niêm mạc bàng quang IVb: Ung thư di căn xa Trong khi đó ung thư cơ tử cung thường gặp ở những phụ nữ trẻ hơn, ở tuổi tiền mãn kinh khoảng sau 40 tuổi, nhưng vẫn gặp ở cả phụ nữ trẻ 20 – 30 tuổi. Các triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ, nhanh chóng và khá điển hình, đó là ra máu bất thường ở âm đạo (khoảng 60% các trường hợp), bụng to nhanh lên vì kích thước của tử cung tăng lên nhanh tạo thành một khối ở vùng tiểu khung, kết quả là bệnh nhân thấy đau vùng bụng dưới do dãn và do chèn ép.

Tiên lượng bệnh rất tồi và nguyên nhân cũng không được rõ, nhưng mối liên quan về nguy cơ của bệnh với việc chụp vùng tiểu khung đã được một số nghiên cứu ghi nhân, với nguy cơ tăng đến 5,38 lần với thời gian ủ bệnh tử 10 – 20 năm [21] [32] [46]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thƣ TTC 1. Đặc điểm lâm sàng Các dấu hiệu chỉ điểm - Dấu hiệu thường gặp là chảy máu nhưng lượng máu không nhiều, không rõ nguyên nhân, có trường hợp chảy máu khi cố rặn đi tiểu hay đại tiện gây chèn ép vào tử cung. Chỉ cần một dấu hiệu chảy máu sau mãn kinh cũng đủ để báo động vì không hiếm các trường hợp dấu hiệu này mất đi lại tái suất sau vài tuần hay vài tháng, rồi trở nên thường xuyên hơn.

- Ra khí hư lẫn mủ: thường do nhiễm khuẩn, mủ lẫn máu tạo thành một chất dịch màu nâu rất nặng mùi, giai đoạn đầu chưa có nhiễm khuẩn có thể ra dịch trong. - Đau: thường xuất hiện muộn khi khối u lan tràn vào các bộ phận trong hố chậu. Khám lâm sàng Nói chung, thăm khám lâm sàng sờ bụng và thăm âm đạo thấy hoàn toàn bình thường. Đặc biệt, tử cung có thể tích bình thường hoặc có thể tích nhỏ, di động và không đau.

Các túi cùng âm đạo tự do, không có tổn thương phần phụ. Khám bằng mỏ vịt, cổ tử cung bình thường, nhưng nếu là đang trong thời kỳ chảy máu, thì 7 sẽ nhận thấy máu chảy ra từ nội cổ tử cung. Nếu rút nhẹ mỏ vịt đồng thời kẹp nhẹ cổ tử cung giữa hai van của mỏ vịt và nếu động tác này làm rỉ ra một ít máu thì điều đó báo hiệu nguồn gốc máu là từ nội tử cung .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ