CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 9 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực Hiện nay các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đề cập đến khái niệm nhân lực dưới những góc độ khác nhau nên có các quan điểm khác nhau về nhân lực. Một số quan điểm cho rằng nhân lực là sức lực của mỗi cá nhân, hướng đến nội lực bên trong con người.
Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. Theo đó, khả năng lao động của con người hay sức lao động được thể hiện qua các tiêu chí: Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực… Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm công tác… Phẩm chất của người lao động (tâm lực): chỉ rõ khả năng sáng tạo, năng động, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với cá nhân, nhóm và tổ chức… Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng cho rằng: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Trong đó, thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của mỗi con người. Trong khi đó các tác giả khác lại cho rằng nhân lực được hiểu là tổng thể những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp. Cụ thể, theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại: “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những 10 người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp”. Qua việc phân tích các quan điểm trên, tác giả cho rằng nhân lực có thể hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp.
Theo nghĩa hẹp, nhân lực chính là thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong tổ chức/doanh nghiệp đó. Khái niệm quản trị nhân lực Quản trị nhân lực là hoạt động quản trị con người trong doanh nghiệp. Nhiệm vụ chính của quản trị nhân lực là giúp doanh nghiệp có được, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người. Quản trị nhân lực đóng vai trò giúp tận dụng và phát huy năng lực làm việc của con người một cách hiệu quả, chính vì vậy làm rõ bản chất của quản trị nhân lực là việc cần thiết trước khi nghiên cứu xung quanh vấn đề nhân lực của một tổ chức.
Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực NXB Đại học Kinh tế quốc dân: “Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng”. Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại cho rằng: “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại định nghĩa rằng: “Quản trị nhân lực được hiểu là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho người lao động và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định”. Từ cách tiếp cận nêu trên có thể thấy có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về Quản trị nhân lực, trong phạm vi nghiên cứu đề tài và để phù hợp với thực trạng nghiên cứu tại doanh nghiệp thương mại dịch vụ, tác giả sử dụng khái niệm Quản trị nhân lực của Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại.
Khái niệm phát triển nhân lực 11 Xã hội luôn luôn phát triển và thay đổi nên yêu cầu đối với chất lượng nhân lực cũng thay đổi theo, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức yêu cầu nhân lực không chỉ dừng lại ở khả năng đáp ứng đầy đủ về bằng cấp, trình độ, kỹ năng mà còn phải có khả năng học tập suốt đời, kịp thời nắm bắt những đổi thay và yêu cầu luôn đổi mới nhanh chóng của thế giới nghề nghiệp, từ đó, kịp thời thích ứng với nghề mới, ngành mới và có đủ sức cạnh tranh trong thị trường lao động. Vì xã hội phát triển dẫn đến nhu cầu phải phát triển nhân lực. Một số quan điểm cho rằng phát triển nhân lực là sự phát triển của mỗi cá nhân về phẩm chất, kiến thức và kỹ năng ở trình độ cao hơn.
Tổ chức lao động quốc tế ILO cho rằng: “Phát triển nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Cũng có quan điểm tương tự, theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên những cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức”. “Phát triển nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2010) cho rằng đào tạo và phát triển nhân lực trong doanh nghiệp có mục tiêu rõ ràng là hướng vào công việc cụ thể, và do vậy mang tính cá biệt, gắn với từng cá nhân và công việc cụ thể.
Tác giả đã kết hợp cả hai hoạt động đào tạo và phát triển nhân lực vì hai hoạt động này không thể tách rời và định nghĩa khái niệm như sau: “Đào tạo và phát triển nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện các kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho NLĐ trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong giáo trình thực hiện công việc của họ cả hiện tại và tương lai”. Một số tác giả khác cũng có quan điểm như trên nhưng định nghĩa khái niệm phát triển nhân lực rõ ràng và cụ thể hơn. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lưc, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: “Phát triển nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; 12 nền văn hóa; truyền thống lịch sử…” Ngoài ra, các tác giả này còn định nghĩa thêm khái niệm phát triển nhân lực khi tiếp cận từ góc độ xã hội, bao hàm tổng thể nhân lực của cả doanh nghiệp “Còn theo cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nhân lực, tạo ra cơ cấu nhân lực ngày càng hợp lý”. Trong quá trình phát triển nhân lực, cần lưu ý một số chỉ số đánh giá như sau: Số lượng nhân lực: Sự phát triển về số lượng nhân lực được thể hiện qua tiêu chí như số lượng người tăng thêm/giảm đi so với cùng kỳ năm trước… Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực thể hiện ở trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v… của người lao động.
Thể lực, trí lực và phẩm chất lao động là những yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nhân lực. Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v… Tóm lại, phát triển nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình gia tăng về số lượng, cơ cấu và chất lượng nhân lực cả về thể lực, trí lực và phẩm chất người lao động để tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình phát triển của tổ chức. Phát triển nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải được hoạch định từ mục tiêu của doanh nghiệp.
Các tiêu chí đánh giá phát triển nhân lực 1. Về số lượng nhân lực Sự tăng trưởng số lượng nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp có thể thông qua sự phát triển từ nội bộ tổ chức, doanh nghiệp như đào tạo, bồi dưỡng nhân lực… hoặc từ thị trường lao động thông qua hoạt động tuyển dụng nhân lực.